VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 07/VBHN-VPQH |
Hà Nội, ngày 25 tháng 6 năm 2019 |
Luật Sở hữu
trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số
36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010;
2. Luật số
42/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 11 năm 2019.
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Luật này quy định về sở hữu trí tuệ[1].
Luật này quy định về quyền tác giả, quyền
liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây
trồng và việc bảo hộ các quyền đó.
Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân
Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật
này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 3. Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ[2]
1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả
bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao
gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí
mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng
là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được
hiểu như sau:
1. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền
của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền
liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống
cây trồng.
2. Quyền tác giả là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả
(sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc
biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang
chương trình được mã hóa.
4. Quyền sở hữu công nghiệp là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố
trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật
kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành
mạnh.
5. Quyền đối với giống cây trồng là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc
phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.
6. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ là
chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển
giao quyền sở hữu trí tuệ.
7. Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo
trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương
tiện hay hình thức nào.
8. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm
dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển
thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.
9. Tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã
công bố là tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình đã được phát hành với sự đồng ý
của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công
chúng với một số lượng bản sao hợp lý.
10. Sao chép là việc tạo ra một
hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương
tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.
11. Phát sóng là việc truyền âm
thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn,
bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đến công chúng bằng phương tiện vô
tuyến hoặc hữu tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng có thể
tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn.
12. Sáng chế là giải pháp kỹ thuật
dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc
ứng dụng các quy luật tự nhiên.
13. Kiểu dáng công nghiệp là hình
dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc
hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
14. Mạch tích hợp bán dẫn là sản
phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất
một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên
trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch
tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.
15. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử
mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.
16. Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
17. Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở
hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành
viên của tổ chức đó.
18. Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn
hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng
hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ,
nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ,
chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch
vụ mang nhãn hiệu.
19. Nhãn hiệu liên kết là các nhãn
hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm,
dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.
20. Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn
hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
21. Tên thương mại là tên gọi của
tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh
doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu
vực kinh doanh.
Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này
là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh
tiếng.
22. Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng
để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia
cụ thể.
23. Bí mật kinh doanh là thông tin
thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả
năng sử dụng trong kinh doanh.
24. Giống cây trồng là quần thể cây
trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái,
ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các
tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt
được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một
tính trạng có khả năng di truyền được.
25. Văn bằng bảo hộ là văn bản do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở
hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng.
26. Vật liệu nhân giống là cây hoặc
bộ phận của cây có khả năng phát triển thành một cây mới dùng để nhân giống
hoặc để gieo trồng.
27. Vật liệu thu hoạch là cây hoặc
bộ phận của cây thu được từ việc gieo trồng vật liệu nhân giống.
1. Trong trường hợp có những vấn đề dân sự
liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật này thì áp dụng quy
định của Bộ luật dân sự.
2. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa
quy định về sở hữu trí tuệ của Luật này với quy định của luật khác thì áp dụng
quy định của Luật này.
3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định
của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 6. Căn cứ phát
sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác
phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định,
không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công
bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi
cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh
mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây
phương hại đến quyền tác giả.
3. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập
như sau:
a)[4]
Quyền sở hữu công nghiệp đối
với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập
trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc theo điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật
kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh
và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
4. Quyền đối với giống cây trồng được xác
lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.
Điều 7. Giới hạn
quyền sở hữu trí tuệ[5]
1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được
thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của
Luật này.
2. Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ
không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu
quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định
tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép
tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều
kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được
thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 8. Chính sách
của Nhà nước về sở hữu trí tuệ[6]
1. Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ
trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.
2. Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động sáng
tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
3. Hỗ trợ tài chính cho việc nhận chuyển
giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phục vụ lợi ích công cộng; khuyến khích tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ cho hoạt động sáng tạo và bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ.
4. Ưu tiên đầu tư cho việc đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng liên quan làm công
tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
5. Huy động các nguồn lực của xã hội đầu
tư nâng cao năng lực hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều 9. Quyền và
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện
pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có
trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 10. Nội dung
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
1. Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược,
chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn
bản pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí
tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về sở hữu trí tuệ.
4. Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên
quan đến Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền
liên quan, văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, Bằng bảo hộ giống
cây trồng.
5. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp
luật về sở hữu trí tuệ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về sở hữu trí tuệ.
6. Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê
về sở hữu trí tuệ.
7. Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về
sở hữu trí tuệ.
8. Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến
thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ.
9. Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.
Điều 11. Trách
nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về sở hữu trí tuệ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách
nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[7], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở
hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[8] trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về
quyền đối với giống cây trồng.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp
với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[9], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản lý nhà
nước về sở hữu trí tuệ.
4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản
lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.
5. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền,
trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch[10], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp.
Điều 12. Phí, lệ
phí về sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân phải nộp phí, lệ phí khi
tiến hành các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật
này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
QUYỀN TÁC
GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
ĐIỀU KIỆN
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN
Mục 1. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
Điều 13. Tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo
hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền
tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.
2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy
định tại khoản 1 Điều này gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước
ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở
bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi
ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá
nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về
quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 14. Các loại
hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả[11]
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo
khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự
khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói
khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
đ) Tác phẩm sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm
được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng
dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
i) Tác phẩm
kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên
quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian;
m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ
liệu.
2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo
hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác
giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động
trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
4. Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các
loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 15. Các đối
tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả
1. Tin tức
thời sự thuần tuý đưa tin.
2. Văn bản
quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và
bản dịch chính thức của văn bản đó.
3. Quy trình,
hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
Mục 2. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 16. Tổ chức,
cá nhân được bảo hộ quyền liên quan
1. Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ
công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi
chung là người biểu diễn).
2. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu
cuộc biểu diễn quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân định hình lần
đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau
đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình).
4. Tổ chức khởi xướng và thực hiện
việc phát sóng (sau đây gọi là tổ chức phát sóng).
Điều 17. Các đối
tượng quyền liên quan được bảo hộ
1. Cuộc biểu diễn được bảo hộ nếu thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Cuộc biểu diễn do công dân Việt
Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài;
b) Cuộc biểu diễn do người nước
ngoài thực hiện tại Việt Nam;
c) Cuộc biểu diễn được định hình
trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo quy định tại Điều 30 của Luật này;
d) Cuộc biểu diễn chưa được định
hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát sóng được bảo hộ theo quy định tại
Điều 31 của Luật này;
đ) Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ
nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình có quốc tịch Việt Nam;
b) Bản ghi âm, ghi hình của nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa được bảo hộ nếu thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng có quốc tịch Việt
Nam;
b) Chương trình phát sóng, tín hiệu
vệ tinh mang chương trình được mã hóa của tổ chức phát sóng được bảo hộ theo
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa
chỉ được bảo hộ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này với điều kiện
không gây phương hại đến quyền tác giả.
NỘI DUNG,
GIỚI HẠN QUYỀN, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Mục 1. NỘI DUNG,
GIỚI HẠN QUYỀN, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định
tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
1. Đặt tên cho tác phẩm;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác
phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép
người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không
cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức
nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau
đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản
sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng
phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện
kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm
điện ảnh, chương trình máy tính.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này
do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người
khác thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng
một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3
Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền
lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Điều 21. Quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu
1. Người làm công việc đạo diễn, biên
kịch, quay phim, dựng phim, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm
thanh, ánh sáng, mỹ thuật trường quay, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc
khác có tính sáng tạo đối với tác phẩm điện ảnh được hưởng các quyền quy định
tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này và các quyền khác theo thỏa thuận.
Người làm công việc đạo diễn, biên kịch,
biên đạo múa, sáng tác âm nhạc, thiết kế mỹ thuật, thiết kế âm thanh, ánh sáng,
mỹ thuật sân khấu, thiết kế đạo cụ, kỹ xảo và các công việc khác có tính sáng
tạo đối với tác phẩm sân khấu được hưởng các quyền quy định tại các khoản 1, 2
và 4 Điều 19 của Luật này và các quyền khác theo thỏa thuận.
2. Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính và cơ
sở vật chất - kỹ thuật để sản xuất tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu là chủ
sở hữu các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và Điều 20 của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2
Điều này có nghĩa vụ trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác
theo thỏa thuận với những người quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 22. Quyền tác
giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
1. Chương trình máy tính là tập hợp các
chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào
khác, khi gắn vào một phương tiện mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy
tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết quả cụ thể.
Chương trình máy tính được bảo hộ như tác
phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy.
2. Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng
tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các tư liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng
khác.
Việc bảo hộ quyền tác giả đối với sưu tập
dữ liệu không bao hàm chính các tư liệu đó, không gây phương hại đến quyền tác
giả của chính tư liệu đó.
Điều 23. Quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân
nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và
xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng
hoặc bằng cách khác. Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
a) Truyện, thơ, câu đố;
b) Điệu hát, làn điệu âm nhạc;
c) Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò
chơi;
d) Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa,
điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được
thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào.
2. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm
văn học, nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó
và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.
Điều 24. Quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học
Việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này do
Chính phủ quy định cụ thể.
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công
bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích
nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm
sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý
tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh,
truyền hình, phim tài liệu;
d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong
nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư
viện với mục đích nghiên cứu;
e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình
biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ
động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu
diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo
hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng
nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn
ngữ khác cho người khiếm thị;
k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người
khác để sử dụng riêng.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy
định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình
thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác
phẩm.
3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản
1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương
trình máy tính.
1. Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã
công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức
nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu
quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất
khác và phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận; trường hợp không thỏa
thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án
theo quy định của pháp luật.
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công
bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ
hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho
chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy
định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình
thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác
phẩm.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.
Điều 27. Thời hạn
bảo hộ quyền tác giả[14]
1. Quyền nhân thân quy định tại các
khoản 1, 2 và 4 Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn.
2. Quyền nhân thân quy định tại
khoản 3 Điều 19 và quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này có thời hạn
bảo hộ như sau:
a) Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật
ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ
khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh,
mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi
tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm
được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất
hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;
b) Tác phẩm không thuộc loại hình
quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và
năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả
thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối
cùng chết;
c) Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm
a và điểm b khoản này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm
chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
Điều 28. Hành vi
xâm phạm quyền tác giả
1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
2. Mạo danh tác giả.
3. Công bố, phân phối tác phẩm mà
không được phép của tác giả.
4. Công bố, phân phối tác phẩm có
đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.
5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc
tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác
giả.
6. Sao chép tác phẩm mà không được phép
của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và
điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.
7. Làm tác phẩm phái sinh mà không
được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để
làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của
Luật này.
8. Sử dụng tác phẩm mà không được
phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi
vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 25 của Luật này.
9. Cho thuê tác phẩm mà không trả
tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu
quyền tác giả.
10. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân
phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông
và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
11. Xuất bản tác phẩm mà không được
phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
12. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các
biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác
giả đối với tác phẩm của mình.
13. Cố ý xóa, thay đổi thông tin
quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.
14. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi,
phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ
sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền
tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
15. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký
của tác giả bị giả mạo.
16. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối
bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Mục 2. NỘI DUNG,
GIỚI HẠN QUYỀN, THỜI HẠN BẢO HỘ QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 29. Quyền của
người biểu diễn
1. Người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư
thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong
trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có
các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn.
2. Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau
đây:
a) Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi
phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;
b) Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu
diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình
thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
3. Quyền tài sản bao gồm độc quyền thực
hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của
mình trên bản ghi âm, ghi hình;
b) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc
biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình;
c) Phát sóng hoặc truyền theo cách khác
đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể
tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
d) Phân phối đến công chúng bản gốc và bản
sao cuộc biểu diễn của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối
bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được.
4. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các
quyền quy định tại khoản 3 Điều này phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn
theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong trường hợp pháp luật
không quy định.
Điều 30. Quyền của
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình[15]
1. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có
độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản
ghi âm, ghi hình của mình;
b) Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản
gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê
hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp
cận được.
2. Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được
hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến
công chúng.
Điều 31. Quyền của
tổ chức phát sóng
1. Tổ chức phát sóng có độc quyền thực
hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
a) Phát sóng,
tái phát sóng chương trình phát sóng của mình;
b) Phân phối
đến công chúng chương trình phát sóng của mình;
c) Định hình
chương trình phát sóng của mình;
d) Sao chép
bản định hình chương trình phát sóng của mình.
2. Tổ chức
phát sóng được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình
được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng.
1. Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả
tiền nhuận bút, thù lao bao
gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích
nghiên cứu khoa học của cá nhân;
b) Tự sao chép một bản nhằm mục đích giảng
dạy, trừ trường hợp cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát
sóng đã được công bố để giảng dạy;
c) Trích dẫn hợp lý nhằm mục đích cung cấp
thông tin;
d) Tổ chức phát sóng tự làm bản sao tạm
thời để phát sóng khi được hưởng quyền phát sóng.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng quyền quy định
tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường
cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và không gây
phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ
chức phát sóng.
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng
có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin
phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ
chức phát sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực
hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của
pháp luật.
Tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng
không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không
phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát
sóng kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm,
ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại không phải xin phép,
nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao theo thỏa thuận cho tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát
sóng kể từ khi sử dụng; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy
định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức, cá nhân sử dụng quyền quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác
bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và
không gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm,
ghi hình, tổ chức phát sóng.
Điều 34. Thời hạn
bảo hộ quyền liên quan
1. Quyền của người biểu diễn được bảo hộ
năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình.
2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi
hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi
năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm,
ghi hình chưa được công bố.
3. Quyền của tổ chức phát sóng được bảo hộ
năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trình phát sóng được thực hiện.
4. Thời hạn bảo hộ quy định tại các khoản
1, 2 và 3 Điều này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm
dứt thời hạn bảo hộ các quyền liên quan.
Điều 35. Hành vi
xâm phạm các quyền liên quan
1. Chiếm đoạt quyền của người biểu diễn,
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
2. Mạo danh người biểu diễn, nhà sản xuất
bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
3. Công bố, sản xuất và phân phối cuộc
biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà
không được phép của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức
phát sóng.
4. Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất
kỳ hình thức nào đối với cuộc biểu diễn gây phương hại đến danh dự và uy tín
của người biểu diễn.
5. Sao chép, trích ghép đối với cuộc biểu
diễn đã được định hình, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không
được phép của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát
sóng.
6. Dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý
quyền dưới hình thức điện tử mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan.
7. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện
pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền liên quan
của mình.
8. Phát sóng, phân phối, nhập khẩu để phân
phối đến công chúng cuộc biểu diễn, bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình
hoặc bản ghi âm, ghi hình khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý
quyền dưới hình thức điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị thay đổi mà không được phép
của chủ sở hữu quyền liên quan.
9. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối,
nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết
thiết bị đó giải mã trái phép một tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã
hóa.
10. Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối một
tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa khi tín hiệu đã được giải mã mà
không được phép của người phân phối hợp pháp.
CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 36. Chủ sở
hữu quyền tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá
nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20
của Luật này.
Điều 37. Chủ sở
hữu quyền tác giả là tác giả
Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ
sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân
quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
Điều 38. Chủ sở
hữu quyền tác giả là các đồng tác giả
1. Các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài
chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để cùng sáng tạo ra tác phẩm có chung
các quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với tác phẩm đó.
2. Các đồng tác giả sáng tạo ra tác phẩm
quy định tại khoản 1 Điều này, nếu có phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng
độc lập mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác thì có các
quyền quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này đối với phần riêng biệt đó.
1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm
cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại
Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với
tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản
3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều 40. Chủ sở
hữu quyền tác giả là người thừa kế
Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác
giả theo quy định của pháp luật về thừa kế là chủ sở hữu các quyền quy định tại
Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.
Điều 41. Chủ sở
hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền[17]
1. Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một,
một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật
này theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ sở hữu quyền tác giả.
2. Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm
khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả
được xác định.
Điều 42. Chủ sở
hữu quyền tác giả là Nhà nước[18]
1. Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả
đối với các tác phẩm sau đây:
a) Tác phẩm khuyết danh, trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này;
b) Tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà
chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối
nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản;
c) Tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả
chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước.
2. Chính phủ quy định cụ thể việc sử dụng
tác phẩm thuộc sở hữu nhà nước.
Điều 43. Tác phẩm
thuộc về công chúng
1. Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ
theo quy định tại Điều 27 của Luật này thì thuộc về công chúng.
2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử
dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân
thân của tác giả quy định tại Điều 19 của Luật này.
3. Chính phủ quy định cụ thể việc sử dụng
tác phẩm thuộc về công chúng.
Điều 44. Chủ sở
hữu quyền liên quan
1. Tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu
tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để thực hiện cuộc biểu diễn
là chủ sở hữu đối với cuộc biểu diễn đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với
bên liên quan.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng thời gian, đầu
tư tài chính và cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sản xuất bản ghi âm, ghi
hình là chủ sở hữu đối với bản ghi âm, ghi hình đó, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác với bên liên quan.
3. Tổ chức phát sóng là chủ sở hữu đối với
chương trình phát sóng của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên liên
quan.
CHUYỂN GIAO
QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Mục 1. CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 45. Quy định
chung về chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan
1. Chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên
quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao
quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3
Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp
đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.
2. Tác giả không được chuyển nhượng các
quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu
diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29
của Luật này.
3. Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc
chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong
trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc
lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển
nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ
chức, cá nhân khác.
Điều 46. Hợp đồng
chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan
1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền
liên quan phải được lập thành văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển
nhượng và bên được chuyển nhượng;
b) Căn cứ chuyển nhượng;
c) Giá, phương thức thanh toán;
d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
2. Việc thực hiện, sửa đổi, chấm dứt, hủy
bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo quy
định của Bộ luật dân sự.
Mục 2. CHUYỂN
QUYỀN SỬ DỤNG QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 47. Quy định
chung về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả,
quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan
cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các
quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều
31 của Luật này.
2. Tác giả không được chuyển quyền sử dụng
các quyền nhân thân quy định tại Điều 19, trừ quyền công bố tác phẩm; người
biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân quy định tại
khoản 2 Điều 29 của Luật này.
3. Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu
diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc
chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thỏa thuận của tất
cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm,
cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng
biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu
quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối
với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.
4. Tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử
dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá
nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền
liên quan.
Điều 48. Hợp đồng
sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
1. Hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền
liên quan phải được lập thành văn bản gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển
quyền và bên được chuyển quyền;
b) Căn cứ chuyển quyền;
c) Phạm vi chuyển giao quyền;
d) Giá, phương thức thanh toán;
đ) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
2. Việc thực hiện, sửa đổi, chấm
dứt, hủy bỏ hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan được áp dụng theo
quy định của Bộ luật dân sự.
CHỨNG
NHẬN ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 49. Đăng ký
quyền tác giả, quyền liên quan
1. Đăng ký quyền tác giả, quyền liên
quan là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp
đơn và hồ sơ kèm theo (sau đây gọi chung là đơn) cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả,
chủ sở hữu quyền liên quan.
2. Việc nộp đơn để được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không
phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy
định của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không
có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có
tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.
Điều 50. Đơn đăng
ký quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá
nhân khác nộp đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền
liên quan bao gồm:
a) Tờ khai đăng ký quyền tác giả,
quyền liên quan.
Tờ khai phải được làm bằng tiếng
Việt và do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan
hoặc người được ủy quyền nộp đơn ký tên và ghi đầy đủ thông tin về người nộp
đơn, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; tóm tắt
nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát
sóng; tên tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm
đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; cam đoan
về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong đơn.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[19] quy định mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan;
b) Hai bản sao tác phẩm đăng ký
quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan;
c) Giấy ủy quyền, nếu người nộp đơn
là người được ủy quyền;
d) Tài liệu chứng minh quyền nộp
đơn, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác do được thừa kế,
chuyển giao, kế thừa;
đ) Văn bản đồng ý của các đồng tác
giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả;
e) Văn bản đồng ý của các đồng chủ
sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung.
3. Các tài liệu quy định tại các
điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp
làm bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt.
1. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền
tác giả, quyền liên quan có quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên
quan có quyền cấp lại, đổi, hủy bỏ giấy chứng nhận đó.
3. Chính phủ quy định cụ thể điều
kiện, trình tự, thủ tục cấp lại, đổi, hủy bỏ Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác
giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[20] quy định mẫu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan.
Điều 52. Thời hạn
cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên
quan
Trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể
từ ngày nhận đơn hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên
quan có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận
đăng ký quyền liên quan cho người nộp đơn. Trong trường hợp từ chối cấp Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan thì
cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan phải thông báo bằng
văn bản cho người nộp đơn.
Điều 53. Hiệu lực
Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
1. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt
Nam.
2. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan do cơ quan quản lý nhà nước về quyền
tác giả, quyền liên quan cấp trước ngày Luật này có hiệu lực tiếp tục được duy
trì hiệu lực.
Điều 54. Đăng bạ
và công bố đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan
1. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả,
Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan được ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia
về quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Quyết định cấp, cấp lại, đổi hoặc hủy
bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký
quyền liên quan được công bố trên Công báo về quyền tác giả, quyền liên quan.
1. Trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng
ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan bị mất, hư hỏng hoặc
thay đổi chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thì cơ quan có
thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này tiến hành cấp lại hoặc đổi
Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
2. Trong trường hợp người được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không
phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc tác
phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã đăng ký không thuộc đối
tượng bảo hộ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 51
của Luật này hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng
nhận đăng ký quyền liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân phát hiện việc cấp
Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan
trái với quy định của Luật này thì có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về
quyền tác giả, quyền liên quan hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.
TỔ CHỨC ĐẠI
DIỆN, TƯ VẤN, DỊCH VỤ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
Điều 56. Tổ chức
đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,
quyền liên quan là tổ chức phi lợi nhuận do các tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận thành lập, hoạt động theo quy định
của pháp luật để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan.
2. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,
quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo ủy quyền của tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:
a) Thực hiện việc quản lý quyền tác giả,
quyền liên quan; đàm phán cấp phép, thu và phân chia tiền nhuận bút, thù lao,
các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền được ủy quyền;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
thành viên; tổ chức hòa giải khi có tranh chấp.
3. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả,
quyền liên quan có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Thực hiện các hoạt động khuyến khích
sáng tạo và các hoạt động xã hội khác;
b) Hợp tác với các tổ chức tương ứng của
tổ chức quốc tế và của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền liên
quan;
c) Báo cáo theo định kỳ và đột xuất về
hoạt động đại diện tập thể cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
d) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy
định của pháp luật.
Điều 57. Tổ chức
tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan
1. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả,
quyền liên quan được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả,
quyền liên quan thực hiện các hoạt động sau đây theo yêu cầu của tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan:
a) Tư vấn những vấn đề có liên quan đến
quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan;
b) Đại diện cho tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan tiến hành thủ tục nộp đơn đăng ký quyền tác
giả, quyền liên quan theo ủy quyền;
c) Tham gia các quan hệ pháp luật khác về
quyền tác giả, quyền liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo ủy quyền.
ĐIỀU KIỆN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Mục 1. ĐIỀU KIỆN
BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
Điều 58. Điều kiện
chung đối với sáng chế được bảo hộ
1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp
Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.
2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình
thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông
thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.
Điều 59. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
Các đối tượng sau đây không được bảo
hộ với danh nghĩa sáng chế:
1. Phát minh, lý thuyết khoa học,
phương pháp toán học;
2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và
phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện
trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
3. Cách thức thể hiện thông tin;
4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm
mỹ;
5. Giống thực vật, giống động vật;
6. Quy trình sản xuất thực vật, động
vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán
và chữa bệnh cho người và động vật.
Điều 60. Tính mới
của sáng chế
1. Sáng chế được coi là có tính mới nếu
chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ
hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký
sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được
hưởng quyền ưu tiên.
2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ
công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về
sáng chế đó.
3.[21]
Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định
tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng
chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ.
4.[22]
Quy định tại khoản 3 Điều này
cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu
công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định
của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp.
Điều 61. Trình độ
sáng tạo của sáng chế[23]
1. Sáng chế được coi là có trình độ sáng
tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình
thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong
nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng
ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên,
sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng
đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.
2. Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bộc lộ theo quy định tại khoản 3 và khoản 4
Điều 60 của Luật này không được lấy làm cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của
sáng chế đó.
Điều 62. Khả năng
áp dụng công nghiệp của sáng chế
Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng
công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm
hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết
quả ổn định.
Mục 2. ĐIỀU KIỆN
BẢO HỘ ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
Điều 63. Điều kiện
chung đối với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp
ứng các điều kiện sau đây:
1. Có tính mới;
2. Có tính sáng tạo;
3. Có khả năng áp dụng công nghiệp.
Điều 64. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp
Các đối tượng sau đây không được bảo
hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:
1. Hình dáng bên ngoài của sản phẩm
do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có;
2. Hình dáng bên ngoài của công
trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;
3. Hình dáng của sản phẩm không nhìn
thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Điều 65. Tính mới
của kiểu dáng công nghiệp
1. Kiểu dáng công nghiệp được coi là có
tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng
công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản
hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp
đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng
quyền ưu tiên.
2. Hai kiểu dáng công nghiệp không được
coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng
không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thể dùng để phân biệt tổng thể hai
kiểu dáng công nghiệp đó.
3. Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa
bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ
bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó.
4. Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là
mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn
đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công
bố:
a) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác
công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86
của Luật này;
b) Kiểu dáng công nghiệp được người có
quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa
học;
c) Kiểu dáng công nghiệp được người có
quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm
quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa
nhận là chính thức.
Điều 66. Tính sáng
tạo của kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính
sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới
hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong
nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng
ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, kiểu
dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có
hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.
Điều 67. Khả năng
áp dụng công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả
năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm
có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp
hoặc thủ công nghiệp.
Mục 3. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ ĐỐI VỚI THIẾT KẾ BỐ TRÍ
Điều 68. Điều kiện
chung đối với thiết kế bố trí được bảo hộ
Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng các
điều kiện sau đây:
1. Có tính nguyên gốc;
2. Có tính mới thương mại.
Điều 69. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ
với danh nghĩa thiết kế bố trí:
1. Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương
pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn;
2. Thông tin, phần mềm chứa trong mạch
tích hợp bán dẫn.
Điều 70. Tính
nguyên gốc của thiết kế bố trí
1. Thiết kế bố trí được coi là có tính
nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là kết quả lao động sáng tạo của chính
tác giả;
b) Chưa được những người sáng tạo thiết kế
bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi
tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó.
2. Thiết kế bố trí là sự kết hợp các phần
tử, các mối liên kết thông thường chỉ được coi là có tính nguyên gốc nếu toàn
bộ sự kết hợp đó có tính nguyên gốc theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 71. Tính mới
thương mại của thiết kế bố trí
1. Thiết kế bố trí được coi là có tính mới
thương mại nếu chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới
trước ngày nộp đơn đăng ký.
2. Thiết kế bố trí không bị coi là mất
tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kế bố trí được nộp trong thời hạn hai
năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người có quyền đăng ký quy định tại
Điều 86 của Luật này hoặc người được người đó cho phép khai thác nhằm mục đích
thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới.
3. Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích
thương mại quy định tại khoản 2 Điều này là hành vi phân phối công khai nhằm
mục đích thương mại đối với mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế
bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn đó.
Mục 4. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
Điều 72. Điều kiện
chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều
kiện sau đây:
1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng
chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu
tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ
của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Điều 73. Dấu hiệu
không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với
danh nghĩa nhãn hiệu:
1. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
2. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã
hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và
tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
3. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng
dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
4. Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế
mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này
đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
5. Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm
lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng,
công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
Điều 74. Khả năng
phân biệt của nhãn hiệu
1. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân
biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc
từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không
thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng
phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số,
chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu
này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ
hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã
được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm,
phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần,
công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ,
trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình
sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh
vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng
hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi
với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc
nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên
kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho
hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn
hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu
tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi
cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu
tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;
h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ
trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm
năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho
hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi
tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu
hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng
hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên
thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có
thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ
dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người
tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hóa;
m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc
có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang
được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho
rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn
địa lý đó;
n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt
đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn
đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với
ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.
Điều 75. Tiêu chí
đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh
giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1. Số lượng người tiêu dùng liên quan đã
biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn
hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2. Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3. Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung
cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ
đã được cung cấp;
4. Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5. Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu;
6. Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn
hiệu;
7. Số lượng quốc gia công nhận nhãn
hiệu là nổi tiếng;
8. Giá chuyển nhượng, giá chuyển
giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.
Mục 5. ĐIỀU
KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI
Điều 76. Điều kiện
chung đối với tên thương mại được bảo hộ
Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng
phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác
trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Điều 77. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại
Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến
hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại.
Điều 78. Khả năng
phân biệt của tên thương mại
Tên thương mại được coi là có khả năng
phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Chứa thành phần tên riêng, trừ trường
hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;
2. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực
và khu vực kinh doanh;
3. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ
trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.
Mục 6. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Điều 79. Điều kiện
chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp
ứng các điều kiện sau đây:
1. Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn
gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ
dẫn địa lý;
2. Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh
tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa
phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
Điều 80. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ
với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý:
1.[24]
Tên gọi,
chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa theo nhận thức của người tiêu
dùng có liên quan trên
lãnh thổ Việt Nam;
2. Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại
nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn
được sử dụng;
3.[25]
Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ hoặc đã
được nộp theo đơn đăng ký nhãn hiệu có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn,
nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì có khả năng gây nhầm lẫn
về nguồn gốc thương mại của hàng hóa;
4. Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho
người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
Điều 81. Danh
tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
1. Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn
địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm
đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó.
2. Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định
lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả
năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp
kiểm tra phù hợp.
Điều 82. Điều kiện
địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý
1. Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ
dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng,
chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
2. Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí
hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác.
3. Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ
xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương.
Điều 83. Khu vực
địa lý mang chỉ dẫn địa lý
Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh
giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ.
Mục 7. ĐIỀU KIỆN BẢO
HỘ ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
Điều 84. Điều kiện
chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng
các điều kiện sau đây:
1. Không phải là hiểu biết thông thường và
không dễ dàng có được;
2. Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ
tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc
không sử dụng bí mật kinh doanh đó;
3. Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện
pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp
cận được.
Điều 85. Đối tượng
không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh
Các thông tin bí mật sau đây không được
bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh:
1. Bí mật về nhân thân;
2. Bí mật về quản lý nhà nước;
3. Bí mật về quốc phòng, an ninh;
4. Thông tin bí mật khác không liên
quan đến kinh doanh.
Mục 1. ĐĂNG
KÝ SÁNG CHẾ, KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP, THIẾT KẾ BỐ TRÍ, NHÃN HIỆU, CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Điều 86. Quyền
đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng
ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
a) Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí,
phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định
tại khoản 2 Điều này.
2. Chính phủ quy định quyền đăng ký đối
với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra do sử dụng cơ
sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà nước.
3. Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng
nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố
trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ
được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
4. Người có quyền đăng ký quy định tại
Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình
thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp
luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.
Điều 87. Quyền
đăng ký nhãn hiệu[26]
1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn
hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.
2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động
thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị
trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng
nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.
3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp
có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy
chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng
hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá
nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu
hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký
phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng
nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa,
dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ
nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có
quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều
kiện sau đây:
a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân
danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ mà tất cả
các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;
b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây
nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
6. Người có quyền đăng ký quy định tại các
khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển
giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn
bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ
chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có
quyền đăng ký tương ứng.
7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một
nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại
lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép
đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường
hợp có lý do chính đáng.
Điều 88. Quyền
đăng ký chỉ dẫn địa lý
Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam
thuộc về Nhà nước.
Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản
xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá
nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực
hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý
không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.
Điều 89. Cách thức
nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước
ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất,
kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp trực
tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
2. Cá nhân nước ngoài không thường trú tại
Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại
Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện
hợp pháp tại Việt Nam.
3.[27] Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy cho cơ quan quản lý nhà
nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn trực
tuyến.
Điều 90. Nguyên
tắc nộp đơn đầu tiên[28]
1. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký
các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng
hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng
chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp
đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo
hộ.
2. Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều
người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn
với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc
trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho
các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu
trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn
đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
3. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp
văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng
bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo
thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thỏa thuận được thì các
đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
1. Người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, nhãn hiệu có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn
đầu tiên đăng ký bảo hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam
hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thỏa thuận áp
dụng quy định như vậy với Việt Nam;
b) Người nộp đơn là công dân Việt Nam,
công dân của nước khác quy định tại điểm a khoản này cư trú hoặc có cơ sở sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác quy định tại điểm a khoản này;
c) Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng
quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận
đơn đầu tiên;
d) Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trong một đơn đăng ký sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu, người nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu
tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra
nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng với nội dung trong đơn.
3. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được
hưởng quyền ưu tiên có ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.
1. Văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu (sau đây gọi là chủ
văn bằng bảo hộ); tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; đối
tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.
2. Văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý ghi nhận
tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý, các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng chỉ dẫn
địa lý, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn
địa lý, tính chất đặc thù về điều kiện địa lý và khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa
lý.
3. Văn bằng bảo hộ gồm Bằng độc quyền sáng
chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp,
Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, Giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu và Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý.
Điều 93. Hiệu lực
của văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên
toàn lãnh thổ Việt Nam.
2. Bằng độc quyền sáng chế có hiệu
lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn.
3. Bằng độc quyền giải pháp hữu ích
có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn.
4. Bằng độc quyền kiểu dáng công
nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn,
có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm.
5. Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn có hiệu lực từ ngày cấp và chấm dứt vào ngày sớm
nhất trong số những ngày sau đây:
a) Kết thúc mười năm kể từ ngày nộp
đơn;
b) Kết thúc mười năm kể từ ngày
thiết kế bố trí được người có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép
khai thác thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới;
c) Kết thúc mười lăm năm kể từ ngày
tạo ra thiết kế bố trí.
6. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều
lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.
7. Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn
địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp.
Điều 94. Duy trì,
gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Để duy trì hiệu lực Bằng độc quyền sáng
chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí duy
trì hiệu lực.
2. Để gia hạn hiệu lực Bằng độc quyền kiểu
dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, chủ văn bằng bảo hộ phải
nộp lệ phí gia hạn hiệu lực.
3. Mức lệ phí và thủ tục duy trì, gia hạn
hiệu lực văn bằng bảo hộ do Chính phủ quy định.
Điều 95. Chấm dứt
hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực
trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí
duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;
b) Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ
quyền sở hữu công nghiệp;
c) Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại
hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà
không có người kế thừa hợp pháp;
d) Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc
người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước
ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp
việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày
có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;
đ) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc
thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
e) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc
không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng
nhãn hiệu chứng nhận;
g) Các điều kiện địa lý tạo nên danh
tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm
mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó.
2. Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ
sáng chế không nộp lệ phí duy trì hiệu lực trong thời hạn quy định thì khi kết
thúc thời hạn đó, hiệu lực văn bằng tự động chấm dứt kể từ ngày bắt đầu năm
hiệu lực đầu tiên mà lệ phí duy trì hiệu lực không được nộp. Cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận việc chấm dứt hiệu lực văn bằng
bảo hộ vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo
sở hữu công nghiệp.
3. Trong trường hợp chủ văn bằng bảo hộ
tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này
thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định chấm dứt
hiệu lực văn bằng bảo hộ kể từ ngày nhận được tuyên bố của chủ văn bằng bảo hộ.
4. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấm dứt hiệu lực văn bằng
bảo hộ đối với các trường hợp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1
Điều này với điều kiện phải nộp phí và lệ phí.
Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu chấm
dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ và ý kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo
hộ hoặc thông báo từ chối chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ.
5. Quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều
này cũng được áp dụng đối với việc chấm dứt hiệu lực đăng ký quốc tế đối với
nhãn hiệu.
Điều 96. Hủy bỏ
hiệu lực văn bằng bảo hộ
1. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu
lực trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền
đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu;
b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp
ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.
2. Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ một phần hiệu
lực trong trường hợp phần đó không đáp ứng điều kiện bảo hộ.
3. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo
hộ trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này với điều kiện
phải nộp phí và lệ phí.
Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ
hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời
hiệu này là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo
hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn.
4. Căn cứ kết quả xem xét đơn yêu cầu hủy
bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ và ý kiến của các bên liên quan, cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ
hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc thông báo từ chối hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo
hộ.
5. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4
Điều này cũng được áp dụng đối với việc hủy bỏ hiệu lực đăng ký quốc tế đối với
nhãn hiệu.
Điều 97. Sửa đổi
văn bằng bảo hộ
1. Chủ văn bằng bảo hộ có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp sửa đổi những thông tin sau
đây trên văn bằng bảo hộ với điều kiện phải nộp phí, lệ phí:
a) Thay đổi, sửa chữa thiếu sót liên quan
đến tên và địa chỉ của tác giả, chủ văn bằng bảo hộ;
b) Sửa đổi bản mô tả tính chất, chất lượng
đặc thù, khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý; sửa đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu
tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
2. Theo yêu cầu của chủ văn bằng bảo hộ,
cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm sửa chữa
những thiếu sót trong văn bằng bảo hộ do lỗi của cơ quan đó. Trong trường hợp
này, chủ văn bằng bảo hộ không phải nộp phí, lệ phí.
3. Chủ văn bằng bảo hộ có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thu hẹp phạm vi quyền sở hữu
công nghiệp; trong trường hợp này, đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tương ứng
phải được thẩm định lại về nội dung và người yêu cầu phải nộp phí thẩm định nội
dung.
Điều 98. Sổ đăng
ký quốc gia về sở hữu công nghiệp
1. Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công
nghiệp là tài liệu ghi nhận việc xác lập, thay đổi và chuyển giao quyền sở hữu
công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu
và chỉ dẫn địa lý theo quy định của Luật này.
2. Quyết định cấp văn bằng bảo hộ, nội
dung chủ yếu của văn bằng bảo hộ, quyết định sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực
văn bằng bảo hộ, quyết định đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp.
3. Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công
nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp lập và lưu giữ.
Điều 99. Công bố
các quyết định liên quan đến văn bằng bảo hộ
Quyết định cấp, chấm dứt, hủy bỏ, sửa đổi
văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được cơ quan quản lý nhà nước về quyền
sở hữu công nghiệp công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn sáu
mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Mục 2. ĐƠN
ĐĂNG KÝ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều 100. Yêu cầu
chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm
các tài liệu sau đây:
a) Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
b) Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện
đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ quy định tại các điều từ Điều 102
đến Điều 106 của Luật này;
c) Giấy ủy quyền, nếu đơn nộp thông qua
đại diện;
d) Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu
người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác;
đ) Tài liệu chứng minh quyền ưu
tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
e) Chứng từ nộp phí, lệ phí.
2. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và
giấy tờ giao dịch giữa người nộp đơn và cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở
hữu công nghiệp phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu sau đây có thể
được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi cơ quan quản
lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp yêu cầu:
a) Giấy ủy quyền;
b) Tài liệu chứng minh quyền đăng
ký;
c) Tài liệu chứng minh quyền ưu
tiên;
d) Các tài liệu khác để bổ trợ cho
đơn.
3. Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên
đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bao gồm:
a) Bản sao đơn hoặc các đơn đầu tiên
có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
b) Giấy chuyển nhượng quyền ưu tiên
nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác.
Điều 101. Yêu cầu
về tính thống nhất của đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Mỗi đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chỉ
được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một đối tượng sở hữu công nghiệp duy
nhất, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một
Bằng độc quyền sáng chế hoặc một Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho một nhóm
sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo
chung duy nhất.
3. Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một
Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho nhiều kiểu dáng công nghiệp trong các
trường hợp sau đây:
a) Các kiểu dáng công nghiệp của một bộ
sản phẩm gồm nhiều sản phẩm thể hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử
dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục đích;
b) Một kiểu dáng công nghiệp kèm theo một
hoặc nhiều phương án là biến thể của kiểu dáng công nghiệp đó, theo ý tưởng
sáng tạo chung duy nhất, không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp đó.
4. Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp Giấy
chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho một nhãn hiệu dùng cho một hoặc nhiều hàng
hóa, dịch vụ khác nhau.
Điều 102. Yêu cầu
đối với đơn đăng ký sáng chế
1. Tài liệu xác định sáng chế cần bảo hộ
trong đơn đăng ký sáng chế bao gồm bản mô tả sáng chế và bản tóm tắt sáng chế.
Bản mô tả sáng chế gồm phần mô tả sáng chế và phạm vi bảo hộ sáng chế.
2. Phần mô tả sáng chế phải đáp ứng các
điều kiện sau đây:
a) Bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của
sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ
thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó;
b) Giải thích vắn tắt hình vẽ kèm theo,
nếu cần làm rõ thêm bản chất của sáng chế;
c) Làm rõ tính mới, trình độ sáng tạo và
khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế.
3. Phạm vi bảo hộ sáng chế phải được thể
hiện dưới dạng tập hợp các dấu hiệu kỹ thuật cần và đủ để xác định phạm vi
quyền đối với sáng chế và phải phù hợp với phần mô tả sáng chế và hình vẽ.
4. Bản tóm tắt sáng chế phải bộc lộ những
nội dung chủ yếu về bản chất của sáng chế.
Điều 103. Yêu cầu
đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
1. Tài liệu xác định kiểu dáng công nghiệp
cần bảo hộ trong đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp gồm bản mô tả kiểu dáng công
nghiệp và bộ ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp. Bản mô tả kiểu dáng công
nghiệp gồm phần mô tả kiểu dáng công nghiệp và phạm vi bảo hộ kiểu dáng công
nghiệp.
2. Phần mô tả kiểu dáng công nghiệp phải
đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Bộc lộ đầy đủ tất cả các đặc điểm tạo
dáng thể hiện bản chất của kiểu dáng công nghiệp và nêu rõ các đặc điểm tạo
dáng mới, khác biệt so với kiểu dáng công nghiệp ít khác biệt nhất đã biết, phù
hợp với bộ ảnh chụp hoặc bản vẽ;
b) Trường hợp đơn đăng ký kiểu dáng công
nghiệp gồm nhiều phương án thì phần mô tả phải thể hiện đầy đủ các phương án và
chỉ rõ các đặc điểm khác biệt giữa phương án cơ bản với các phương án còn lại;
c) Trường hợp kiểu dáng công nghiệp nêu
trong đơn đăng ký là kiểu dáng của bộ sản phẩm thì phần mô tả phải thể hiện đầy
đủ kiểu dáng của từng sản phẩm trong bộ sản phẩm đó.
3. Phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
phải nêu rõ các đặc điểm tạo dáng cần được bảo hộ, bao gồm các đặc điểm mới,
khác biệt với các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.
4. Bộ ảnh chụp, bản vẽ phải thể hiện đầy
đủ các đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp.
Điều 104. Yêu cầu
đối với đơn đăng ký thiết kế bố trí
Tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định
thiết kế bố trí cần bảo hộ trong đơn đăng ký thiết kế bố trí bao gồm:
1. Bản vẽ, ảnh chụp thiết kế bố trí;
2. Thông tin về chức năng, cấu tạo của
mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí;
3. Mẫu mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo
thiết kế bố trí, nếu thiết kế bố trí đã được khai thác thương mại.
Điều 105. Yêu cầu
đối với đơn đăng ký nhãn hiệu
1. Tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định
nhãn hiệu cần bảo hộ trong đơn đăng ký nhãn hiệu bao gồm:
a) Mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng
hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
b) Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập
thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
2. Mẫu nhãn hiệu phải được mô tả để
làm rõ các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu và ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu nếu
có; nếu nhãn hiệu có từ, ngữ thuộc ngôn ngữ tượng hình thì từ, ngữ đó phải được
phiên âm; nhãn hiệu có từ, ngữ bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra
tiếng Việt.
3. Hàng hóa, dịch vụ nêu trong đơn
đăng ký nhãn hiệu phải được xếp vào các nhóm phù hợp với bảng phân loại theo
Thỏa ước Ni-xơ về phân loại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích đăng
ký nhãn hiệu, do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp công bố.
4. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể
bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ, căn cứ thành lập và
hoạt động của tổ chức tập thể là chủ sở hữu nhãn hiệu;
b) Các tiêu chuẩn để trở thành thành
viên của tổ chức tập thể;
c) Danh sách các tổ chức, cá nhân
được phép sử dụng nhãn hiệu;
d) Các điều kiện sử dụng nhãn hiệu;
đ) Biện pháp xử lý hành vi vi phạm
quy chế sử dụng nhãn hiệu.
5. Quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng
nhận phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu
nhãn hiệu;
b) Điều kiện để được sử dụng nhãn
hiệu;
c) Các đặc tính của hàng hóa, dịch
vụ được chứng nhận bởi nhãn hiệu;
d) Phương pháp đánh giá các đặc tính
của hàng hóa, dịch vụ và phương pháp kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu;
đ) Chi phí mà người sử dụng nhãn
hiệu phải trả cho việc chứng nhận, bảo vệ nhãn hiệu, nếu có.
Điều 106. Yêu cầu
đối với đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý
1. Tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định
chỉ dẫn địa lý cần bảo hộ trong đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý bao gồm:
a) Tên gọi, dấu hiệu là chỉ dẫn địa
lý;
b) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
c) Bản mô tả tính chất, chất lượng
đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý và các yếu tố đặc trưng của
điều kiện tự nhiên tạo nên tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản
phẩm đó (sau đây gọi là bản mô tả tính chất đặc thù);
d) Bản đồ khu vực địa lý tương ứng
với chỉ dẫn địa lý;
đ) Tài liệu chứng minh chỉ dẫn địa
lý đang được bảo hộ tại nước có chỉ dẫn địa lý đó, nếu là chỉ dẫn địa lý của
nước ngoài.
2. Bản mô tả tính chất đặc thù phải
có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Mô tả loại sản phẩm tương ứng,
bao gồm cả nguyên liệu thô và các đặc tính lý học, hóa học, vi sinh và cảm quan
của sản phẩm;
b) Cách xác định khu vực địa lý
tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
c) Chứng cứ về loại sản phẩm có xuất
xứ từ khu vực địa lý theo nghĩa tương ứng quy định tại Điều 79 của Luật này;
d) Mô tả phương pháp sản xuất, chế
biến mang tính địa phương và có tính ổn định;
đ) Thông tin về mối quan hệ giữa
tính chất, chất lượng đặc thù hoặc danh tiếng của sản phẩm với điều kiện địa lý
theo quy định tại Điều 79 của Luật này;
e) Thông tin về cơ chế tự kiểm tra
các tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm.
Điều 107. Ủy
quyền đại diện trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp
1. Việc ủy quyền tiến hành các thủ tục
liên quan đến việc xác lập, duy trì, gia hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu
lực văn bằng bảo hộ phải được lập thành giấy ủy quyền.
2. Giấy ủy quyền phải có các nội dung chủ
yếu sau đây:
a) Tên, địa chỉ đầy đủ của bên ủy quyền và
bên được ủy quyền;
b) Phạm vi ủy quyền;
c) Thời hạn ủy quyền;
d) Ngày lập giấy ủy quyền;
đ) Chữ ký, con dấu (nếu có) của bên
ủy quyền.
3. Giấy ủy quyền không có thời hạn
ủy quyền được coi là có hiệu lực vô thời hạn và chỉ chấm dứt hiệu lực khi bên
ủy quyền tuyên bố chấm dứt ủy quyền.
Mục 3. THỦ
TỤC XỬ LÝ ĐƠN ĐĂNG KÝ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ CẤP VĂN BẰNG BẢO HỘ
Điều 108. Tiếp
nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, ngày nộp đơn
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
chỉ được cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp tiếp nhận nếu có
ít nhất các thông tin và tài liệu sau đây:
a) Tờ khai đăng ký sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, trong đó có đủ
thông tin để xác định người nộp đơn và mẫu nhãn hiệu, danh mục sản phẩm, dịch
vụ mang nhãn hiệu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu;
b) Bản mô tả, trong đó có phạm vi bảo hộ đối với đơn
đăng ký sáng chế; bộ ảnh chụp, bản vẽ, bản mô tả đối với đơn đăng ký kiểu dáng
công nghiệp; bản mô tả tính chất đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đối
với đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý;
c) Chứng từ nộp lệ phí nộp đơn.
2. Ngày nộp đơn là ngày đơn được cơ quan
quản lý nhà nước về quyền
sở hữu công nghiệp tiếp nhận
hoặc là ngày nộp đơn quốc tế đối với đơn nộp theo điều ước quốc tế.
Điều 109. Thẩm
định hình thức đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được
thẩm định hình thức để đánh giá tính hợp lệ của đơn.
2. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bị coi
là không hợp lệ trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn không đáp ứng các yêu cầu về
hình thức;
b) Đối tượng nêu trong đơn là đối
tượng không được bảo hộ;
c) Người nộp đơn không có quyền đăng
ký, kể cả trường hợp quyền đăng ký cùng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một
hoặc một số người trong số đó không đồng ý thực hiện việc nộp đơn;
d) Đơn được nộp trái với quy định về
cách thức nộp đơn quy định tại Điều 89 của Luật này;
đ) Người nộp đơn không nộp phí và lệ
phí.
3. Đối với đơn đăng ký sở hữu công
nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan quản lý nhà
nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thông báo dự định từ chối chấp
nhận đơn hợp lệ, trong đó phải nêu rõ lý do và ấn định thời hạn để người nộp
đơn sửa chữa thiếu sót hoặc có ý kiến phản đối dự định từ chối;
b) Thông báo từ chối chấp nhận đơn
hợp lệ nếu người nộp đơn không sửa chữa thiếu sót, sửa chữa thiếu sót không đạt
yêu cầu hoặc không có ý kiến xác đáng phản đối dự định từ chối quy định tại
điểm a khoản này;
c) Thông báo từ chối cấp Giấy chứng
nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đối với đơn đăng ký thiết kế
bố trí;
d) Thực hiện thủ tục quy định tại
khoản 4 Điều này nếu người nộp đơn sửa chữa thiếu sót đạt yêu cầu hoặc có ý
kiến xác đáng phản đối dự định từ chối chấp nhận đơn hợp lệ quy định tại điểm a
khoản này.
4. Đối với đơn đăng ký sở hữu công
nghiệp không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này hoặc thuộc
trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước về
quyền sở hữu công nghiệp ra thông báo chấp nhận đơn hợp lệ hoặc thực hiện thủ
tục cấp văn bằng bảo hộ và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công
nghiệp theo quy định tại Điều 118 của Luật này đối với đơn đăng ký thiết kế bố
trí.
5. Đơn đăng ký nhãn hiệu bị từ chối
theo quy định tại khoản 3 Điều này bị coi là không được nộp, trừ trường hợp đơn
được dùng làm căn cứ để yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.
Điều 110. Công bố
đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp đã được
cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp chấp nhận hợp lệ được công
bố trên Công báo sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều này.
2. Đơn đăng ký sáng chế được công bố trong
tháng thứ mười chín kể từ ngày nộp đơn hoặc từ ngày ưu tiên đối với đơn được
hưởng quyền ưu tiên hoặc vào thời điểm sớm hơn theo yêu cầu của người nộp đơn.
3. Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn
đăng ký nhãn hiệu, đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố trong thời hạn hai
tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ.
4. Đơn đăng ký thiết kế bố trí được công
bố dưới hình thức cho phép tra cứu trực tiếp tại cơ quan quản lý nhà nước về
quyền sở hữu công nghiệp nhưng không được sao chép; đối với thông tin bí mật
trong đơn thì chỉ có cơ quan có thẩm quyền và các bên liên quan trong quá trình
thực hiện thủ tục hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc quá trình thực hiện thủ
tục xử lý hành vi xâm phạm quyền mới được phép tra cứu.
Các thông tin cơ bản về đơn đăng ký thiết
kế bố trí và văn bằng bảo hộ thiết kế bố trí được công bố trong thời hạn hai
tháng kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ.
Điều 111. Bảo mật
đơn đăng ký sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trước khi công bố
1. Trước thời điểm đơn đăng ký sáng chế,
đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố trên Công báo sở hữu công
nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm bảo
mật thông tin trong đơn.
2. Cán bộ, công chức của cơ quan quản lý
nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp làm lộ bí mật thông tin trong đơn đăng ký
sáng chế, đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp thì bị xử lý kỷ luật; nếu việc làm
lộ bí mật thông tin gây thiệt hại cho người nộp đơn thì phải bồi thường thiệt
hại theo quy định của pháp luật.
Điều 112. Ý kiến
của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ
Kể từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp đến trước ngày ra quyết định cấp
văn bằng bảo hộ, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền có ý kiến với cơ quan
quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp về việc cấp hoặc không cấp văn
bằng bảo hộ đối với đơn đó. Ý kiến phải được lập thành văn bản kèm theo các tài
liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh.
Điều 113. Yêu cầu
thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế
1. Trong thời hạn bốn mươi hai tháng kể từ
ngày nộp đơn hoặc kể từ ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu
tiên, người nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc bất kỳ người thứ ba nào đều có thể
yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thẩm định nội dung
đơn với điều kiện phải nộp phí thẩm định nội dung đơn.
2. Thời hạn yêu cầu thẩm định nội
dung đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích là ba
mươi sáu tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc kể từ ngày ưu tiên trong trường hợp đơn
được hưởng quyền ưu tiên.
3. Trường hợp không có yêu cầu thẩm
định nội dung nộp trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì
đơn đăng ký sáng chế được coi như đã rút tại thời điểm kết thúc thời hạn đó.
Điều 114. Thẩm
định nội dung đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Những đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
sau đây được thẩm định nội dung để đánh giá khả năng cấp văn bằng bảo hộ cho
đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ và xác định phạm vi bảo hộ
tương ứng:
a) Đơn đăng ký sáng chế đã được công nhận
là hợp lệ và có yêu cầu thẩm định nội dung nộp theo quy định;
b) Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn
đăng ký nhãn hiệu, đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý đã được công nhận là hợp lệ.
2. Đơn đăng ký thiết kế bố trí không
được thẩm định nội dung.
Điều 115. Sửa
đổi, bổ sung, tách, chuyển đổi đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Trước khi cơ quan quản lý nhà nước về
quyền sở hữu công nghiệp thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc quyết định
cấp văn bằng bảo hộ, người nộp đơn có các quyền sau đây:
a) Sửa đổi, bổ sung đơn;
b) Tách đơn;
c) Yêu cầu ghi nhận thay đổi về tên,
địa chỉ của người nộp đơn;
d) Yêu cầu ghi nhận thay đổi người
nộp đơn do chuyển nhượng đơn theo hợp đồng, do thừa kế, kế thừa hoặc theo quyết
định của cơ quan có thẩm quyền;
đ) Chuyển đổi đơn đăng ký sáng chế
có yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế thành đơn đăng ký sáng chế có yêu cầu
cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích và ngược lại.
2. Người yêu cầu thực hiện các thủ
tục quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp phí và lệ phí.
3. Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký
sở hữu công nghiệp không được mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu
trong đơn và không được làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu
trong đơn, đồng thời phải bảo đảm tính thống nhất của đơn.
4. Trong trường hợp tách đơn thì
ngày nộp đơn của đơn được tách được xác định là ngày nộp đơn của đơn ban đầu.
Điều 116. Rút đơn
đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Trước khi cơ quan quản lý nhà nước về
quyền sở hữu công nghiệp quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ, người
nộp đơn có quyền tuyên bố rút đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bằng văn bản do
chính mình đứng tên hoặc thông qua tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
nếu giấy ủy quyền có nêu rõ việc ủy quyền rút đơn.
2. Từ thời điểm người nộp đơn tuyên bố rút
đơn, mọi thủ tục tiếp theo liên quan đến đơn đó sẽ bị chấm dứt; các khoản phí,
lệ phí đã nộp liên quan đến những thủ tục chưa bắt đầu tiến hành được hoàn trả
theo yêu cầu của người nộp đơn.
3. Mọi đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp đã rút hoặc bị coi là đã rút nếu chưa công bố và mọi đơn đăng ký
nhãn hiệu đã rút đều được coi là chưa từng được nộp, trừ trường hợp đơn được
dùng làm căn cứ để yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.
Điều 117. Từ chối
cấp văn bằng bảo hộ
1. Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các
trường hợp sau đây:
a) Có cơ sở để khẳng định rằng đối tượng
nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ;
b) Đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp
văn bằng bảo hộ nhưng không phải là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm
nhất thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 90 của Luật này;
c) Đơn thuộc trường hợp quy định tại khoản
2 Điều 90 của Luật này mà không được sự thống nhất của tất cả những người nộp
đơn.
2. Đơn đăng ký thiết kế bố trí bị từ chối
cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp không đáp ứng yêu cầu về hình thức theo
quy định tại Điều 109 của Luật này.
3. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp thuộc
các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì cơ quan quản lý nhà
nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thông báo dự định từ chối cấp văn bằng
bảo hộ, trong đó phải nêu rõ lý do và ấn định thời hạn để người nộp đơn có ý
kiến phản đối dự định từ chối;
b) Thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ
nếu người nộp đơn không có ý kiến phản đối hoặc ý kiến phản đối không xác đáng
dự định từ chối quy định tại điểm a khoản này;
c) Cấp văn bằng bảo hộ và ghi nhận vào Sổ
đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 118 của Luật này
nếu người nộp đơn có ý kiến xác đáng phản đối dự định từ chối quy định tại điểm
a khoản này.
4. Trong trường hợp có phản đối về dự định
cấp văn bằng bảo hộ, đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tương ứng được thẩm định
lại về những vấn đề bị phản đối.
Điều 118. Cấp văn
bằng bảo hộ, đăng bạ
Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp không thuộc
các trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ quy định tại khoản 1, khoản 2 và
điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này và người nộp đơn nộp lệ phí thì cơ quan
quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định cấp văn bằng bảo hộ và
ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp.
Điều 119. Thời
hạn xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp[29]
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được
thẩm định hình thức trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nộp đơn.
2. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được
thẩm định nội dung trong thời hạn sau đây:
a) Đối với sáng chế không quá mười tám
tháng, kể từ ngày công bố đơn nếu yêu cầu thẩm định nội dung được nộp trước
ngày công bố đơn hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung nếu yêu
cầu đó được nộp sau ngày công bố đơn;
b) Đối với nhãn hiệu không quá chín tháng,
kể từ ngày công bố đơn;
c) Đối với kiểu dáng công nghiệp không quá
bảy tháng, kể từ ngày công bố đơn;
d) Đối với chỉ dẫn địa lý không quá sáu
tháng, kể từ ngày công bố đơn.
3. Thời hạn thẩm định lại đơn đăng ký sở
hữu công nghiệp bằng hai phần ba thời hạn thẩm định lần đầu, đối với những vụ
việc phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không vượt quá thời hạn thẩm định lần
đầu.
4. Thời gian để người nộp đơn sửa đổi, bổ
sung đơn không được tính vào các thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều
này; thời hạn xử lý yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn không vượt quá một phần ba
thời gian thẩm định tương ứng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Mục 4. ĐƠN QUỐC
TẾ, ĐỀ NGHỊ QUỐC TẾ VÀ XỬ LÝ ĐƠN QUỐC TẾ, ĐỀ NGHỊ QUỐC TẾ[30]
Điều 120. Đơn
quốc tế và xử lý đơn quốc tế
1. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp nộp theo
các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên được
gọi chung là đơn quốc tế.
2. Đơn quốc tế và việc xử lý đơn quốc tế
phải tuân thủ quy định của điều ước quốc tế có liên quan.
3. Chính phủ hướng dẫn thi hành quy định
về đơn quốc tế và trình tự, thủ tục xử lý đơn quốc tế của điều ước quốc tế có
liên quan phù hợp với các nguyên tắc của Chương này.
Điều 120a. Đề
nghị quốc tế và xử lý đề nghị quốc tế về chỉ dẫn địa lý[31]
1. Đề nghị công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa
lý theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang đàm phán
gọi là đề nghị quốc tế.
2. Việc công bố đề nghị quốc tế, xử lý ý
kiến của người thứ ba, đánh giá điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý trong
đề nghị quốc tế được thực hiện theo các quy định tương ứng tại Luật này
đối với chỉ dẫn địa lý trong đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được nộp cho cơ quan
quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
CHỦ SỞ HỮU,
NỘI DUNG VÀ GIỚI HẠN QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Mục 1. CHỦ SỞ HỮU
VÀ NỘI DUNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều 121. Chủ sở
hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn
bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng.
Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân
được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã
đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi
tiếng.
2. Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức,
cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh.
3. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ
chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo
mật bí mật kinh doanh đó. Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện
nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được
giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác.
4. Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam
là Nhà nước.
Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý
cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại
địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực
hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ
chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng
chỉ dẫn địa lý.
Điều 122. Tác giả
và quyền của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Tác giả sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí là người trực tiếp sáng tạo ra đối tượng sở hữu công
nghiệp; trong trường hợp có hai người trở lên cùng nhau trực tiếp sáng tạo ra
đối tượng sở hữu công nghiệp thì họ là đồng tác giả.
2. Quyền nhân thân của tác giả sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí gồm các quyền sau đây:
a) Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc
quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công
nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;
b) Được nêu tên là tác giả trong các tài
liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.
3. Quyền tài sản của tác giả sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là quyền nhận thù lao theo quy định tại
Điều 135 của Luật này.
Điều 123. Quyền
của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
có các quyền tài sản sau đây:
a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng
đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật
này;
b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này;
c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp
theo quy định tại Chương X của Luật này.
2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao
quyền sử dụng, quyền quản lý chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121
của Luật này có các quyền sau đây:
a) Tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn
địa lý có quyền cho phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này;
b) Tổ chức, cá nhân được trao quyền sử
dụng hoặc tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm
người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Điều 124. Sử dụng
đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Sử dụng sáng chế là việc thực hiện các
hành vi sau đây:
a) Sản xuất sản phẩm được bảo hộ;
b) Áp dụng quy trình được bảo hộ;
c) Khai thác công dụng của sản phẩm
được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ;
d) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng,
tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm c khoản này;
đ) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại
điểm c khoản này.
2. Sử dụng kiểu dáng công nghiệp là
việc thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sản xuất sản phẩm có hình dáng
bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
b) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng,
tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm a khoản này;
c) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại
điểm a khoản này.
3. Sử dụng thiết kế bố trí là việc
thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép thiết kế bố trí; sản
xuất mạch tích hợp bán dẫn theo thiết kế bố trí được bảo hộ;
b) Bán, cho thuê, quảng cáo, chào
hàng hoặc tàng trữ các bản sao thiết kế bố trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất
theo thiết kế bố trí hoặc hàng hóa chứa mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo
thiết kế bố trí được bảo hộ;
c) Nhập khẩu bản sao thiết kế bố
trí, mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hóa chứa
mạch tích hợp bán dẫn sản xuất theo thiết kế bố trí được bảo hộ.
4. Sử dụng bí mật kinh doanh là việc
thực hiện các hành vi sau đây:
a) Áp dụng bí mật kinh doanh để sản
xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hóa;
b) Bán, quảng cáo để bán, tàng trữ
để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do áp dụng bí mật kinh doanh.
5. Sử dụng nhãn hiệu là việc thực
hiện các hành vi sau đây:
a) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên
hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ
giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo để
bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang
nhãn hiệu được bảo hộ.
6. Sử dụng tên thương mại là việc
thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để
xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các
giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương
tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.
7. Sử dụng chỉ dẫn địa lý là việc
thực hiện các hành vi sau đây:
a) Gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong
hoạt động kinh doanh;
b) Lưu thông, chào bán, quảng cáo
nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ;
c) Nhập khẩu hàng hóa có mang chỉ
dẫn địa lý được bảo hộ.
Điều 125. Quyền
ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý
có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử
dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý
không có quyền cấm người khác thực hiện hành vi thuộc các trường hợp sau đây:
a) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương
mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm,
sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất,
nhập khẩu, lưu hành sản phẩm;
b) Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công
dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách
hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được
phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài;
c) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí chỉ nhằm mục đích duy trì hoạt động của các phương tiện
vận tải của nước ngoài đang quá cảnh hoặc tạm thời nằm trong lãnh thổ Việt Nam;
d) Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật
này;
đ) Sử dụng sáng chế do người được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện theo quy định tại Điều 145 và Điều
146 của Luật này;
e) Sử dụng thiết kế bố trí khi không biết
hoặc không có nghĩa vụ phải biết thiết kế bố trí đó được bảo hộ;
g) Sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự
với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đã đạt được sự bảo hộ một cách
trung thực trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý đó;
h) Sử dụng một cách trung thực tên người,
dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc
địa lý và các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.
3. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có
quyền cấm người khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu
được khi không biết và không có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do
người khác thu được một cách bất hợp pháp;
b) Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công
chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Luật này;
c) Sử dụng dữ liệu bí mật quy định tại
Điều 128 của Luật này không nhằm mục đích thương mại;
d) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được
tạo ra một cách độc lập;
đ) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được
tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện
người phân tích, đánh giá không có thỏa thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh
doanh hoặc người bán hàng.
Điều 126. Hành vi
xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm
quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
1. Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng
công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với
kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên
gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không
được phép của chủ sở hữu;
2. Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm
thời quy định tại Điều 131 của Luật này.
Điều 127. Hành vi
xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh
1. Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm
quyền đối với bí mật kinh doanh:
a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí
mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát
hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật
kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;
c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt,
xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ
bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;
d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí
mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu
hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm
quyền;
đ) Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã
biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có
liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản
này;
e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy
định tại Điều 128 của Luật này.
2. Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh
doanh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh, người
được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng bí mật kinh doanh, người quản lý bí mật
kinh doanh.
Điều 128. Nghĩa
vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm
1. Trong trường hợp pháp luật có quy định
người nộp đơn xin cấp phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm phải
cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh
thu được do đầu tư công sức đáng kể và người nộp đơn có yêu cầu giữ bí mật các
thông tin đó thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép có nghĩa vụ thực hiện các biện
pháp cần thiết để các dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại
không lành mạnh và không bị bộc lộ, trừ trường hợp việc bộc lộ là cần thiết
nhằm bảo vệ công chúng.
2. Kể từ khi dữ liệu bí mật trong đơn xin
cấp phép được nộp cho cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này đến
hết năm năm kể từ ngày người nộp đơn được cấp phép, cơ quan đó không được cấp
phép cho bất kỳ người nào nộp đơn muộn hơn nếu trong đơn sử dụng dữ liệu bí mật
nêu trên mà không được sự đồng ý của người nộp dữ liệu đó, trừ trường hợp quy
định tại điểm d khoản 3 Điều 125 của Luật này.
Điều 129. Hành vi
xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
1. Các hành vi sau đây được thực hiện mà
không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với
nhãn hiệu:
a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu
được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục
đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu
được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ
thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây
nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu
được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa,
dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả
năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự
với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn
hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không
trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục
hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây
nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa
người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
2. Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại
trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho
cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn
về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương
mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.
3. Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm
quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:
a) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho
sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý,
nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù
của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
b) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho
sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh
tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;
c) Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc
tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu
vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản
phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;
d) Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối
với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ
khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn
về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hóa hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới
dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng,
phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy.
Điều 130. Hành vi
cạnh tranh không lành mạnh
1. Các hành vi sau đây bị coi là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh:
a) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hóa,
dịch vụ;
b) Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác
của hàng hóa, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ;
c) Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước
là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý
của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ
sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn
hiệu và không có lý do chính đáng;
d) Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc
sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại
được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng
nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh
tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.
2. Chỉ dẫn thương mại quy định tại khoản 1
Điều này là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hóa, dịch
vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa.
3. Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy
định tại khoản 1 Điều này bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫn thương mại đó lên
hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh,
phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng
hóa có gắn chỉ dẫn thương mại đó.
Điều 131. Quyền
tạm thời đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp biết rằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đang được
người khác sử dụng nhằm mục đích thương mại và người đó không có quyền sử dụng
trước thì người nộp đơn có quyền thông báo bằng văn bản cho người sử dụng về
việc mình đã nộp đơn đăng ký, trong đó chỉ rõ ngày nộp đơn và ngày công bố đơn
trên Công báo sở hữu công nghiệp để người đó chấm dứt việc sử dụng hoặc tiếp
tục sử dụng.
2. Đối với thiết kế bố trí đã được người
có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại trước
ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nếu
người có quyền đăng ký biết rằng thiết kế bố trí đó đang được người khác sử
dụng nhằm mục đích thương mại thì người đó có quyền thông báo bằng văn bản về
quyền đăng ký của mình đối với thiết kế bố trí đó cho người sử dụng để người đó
chấm dứt việc sử dụng thiết kế bố trí hoặc tiếp tục sử dụng.
3. Trong trường hợp đã được thông báo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà người được thông báo vẫn tiếp tục sử
dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì khi Bằng độc quyền
sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp,
Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được cấp, chủ sở
hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí có quyền yêu cầu người đã
sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí phải trả một khoản
tiền đền bù tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí đó trong phạm vi và thời hạn sử dụng tương ứng.
Mục 2. GIỚI HẠN
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều 132. Các yếu
tố hạn chế quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định của Luật này, quyền sở hữu
công nghiệp có thể bị hạn chế bởi các yếu tố sau đây:
1. Quyền của người sử dụng trước đối với
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp;
2. Các nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm:
a) Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
b) Sử dụng sáng chế, nhãn hiệu.
3. Chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 133. Quyền
sử dụng sáng chế nhân danh Nhà nước
1. Bộ, cơ quan ngang bộ có quyền nhân danh
Nhà nước sử dụng hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế thuộc
lĩnh vực quản lý của mình nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc
phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân và đáp ứng các
nhu cầu cấp thiết khác của xã hội mà không cần sự đồng ý của chủ sở hữu sáng
chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng độc quyền
(sau đây gọi là người nắm độc quyền sử dụng sáng chế) theo quy định tại Điều
145 và Điều 146 của Luật này.
2. Việc sử dụng sáng chế quy định tại khoản
1 Điều này chỉ được giới hạn trong phạm vi và điều kiện chuyển giao quyền sử
dụng quy định tại khoản 1 Điều 146 của Luật này, trừ trường hợp sáng chế được
tạo ra bằng việc sử dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí từ ngân sách nhà
nước.
Điều 134. Quyền
sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp[32]
1. Trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày
ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà có người đã
sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký
nhưng được tạo ra một cách độc lập (sau đây gọi là người có quyền sử dụng
trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã
chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ. Việc thực hiện quyền của người sử
dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không bị coi là xâm phạm quyền của
chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.
2. Người có quyền sử dụng trước sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ
trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh
doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. Người
có quyền sử dụng trước không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không
được chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cho phép.
Điều 135. Nghĩa
vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
1. Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí có nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả theo quy định tại
khoản 2 và khoản 3 Điều này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu
phải trả cho tác giả được quy định như sau:
a) 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu
được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
b) 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận
được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.
3. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí được nhiều tác giả tạo ra, mức thù lao quy định
tại khoản 2 Điều này là mức dành cho tất cả các đồng tác giả; các đồng tác giả
tự thỏa thuận việc phân chia số tiền thù lao do chủ sở hữu chi trả.
4. Nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tồn tại trong suốt thời hạn bảo hộ
của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.
Điều 136. Nghĩa
vụ sử dụng sáng chế, nhãn hiệu
1. Chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản
xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu
quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc các
nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu quy định tại khoản này mà
chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần
được phép của chủ sở hữu sáng chế theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của
Luật này.
2.[33]
Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu. Việc sử dụng nhãn
hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là
hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong trường hợp nhãn hiệu
không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn
hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này.
Điều 137. Nghĩa
vụ cho phép sử dụng sáng chế cơ bản nhằm sử dụng sáng chế phụ thuộc
1. Sáng chế phụ thuộc là sáng chế được tạo
ra trên cơ sở một sáng chế khác (sau đây gọi là sáng chế cơ bản) và chỉ có thể
sử dụng được với điều kiện phải sử dụng sáng chế cơ bản.
2. Trong trường hợp chứng minh được sáng
chế phụ thuộc tạo ra một bước tiến quan trọng về kỹ thuật so với sáng chế cơ
bản và có ý nghĩa kinh tế lớn, chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc có quyền yêu cầu
chủ sở hữu sáng chế cơ bản chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản với giá cả
và điều kiện thương mại hợp lý.
Trong trường hợp chủ sở hữu sáng chế cơ
bản không đáp ứng yêu cầu của chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không có lý do
chính đáng thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng
sáng chế đó cho chủ sở hữu sáng chế phụ thuộc mà không cần được phép của chủ sở
hữu sáng chế cơ bản theo quy định tại Điều 145 và Điều 146 của Luật này.
CHUYỂN GIAO
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Mục 1. CHUYỂN
NHƯỢNG QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều 138. Quy
định chung về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
1. Chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình
cho tổ chức, cá nhân khác.
2. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công
nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là
hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp).
Điều 139. Các
điều kiện hạn chế việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
1. Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chỉ
được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ.
2. Quyền đối với chỉ dẫn địa lý không được
chuyển nhượng.
3. Quyền đối với tên thương mại chỉ được
chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động
kinh doanh dưới tên thương mại đó.
4. Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn
hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu.
5. Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển
nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng
ký nhãn hiệu đó.
Điều 140. Nội
dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công
nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển
nhượng và bên được chuyển nhượng.
2. Căn cứ chuyển nhượng.
3. Giá chuyển nhượng.
4. Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng
và bên được chuyển nhượng.
Mục 2. CHUYỂN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI TƯỢNG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều 141. Quy
định chung về chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức,
cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng
của mình.
2. Việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau
đây gọi là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp).
Điều 142. Hạn chế
việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương
mại không được chuyển giao.
2. Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không
được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu
nhãn hiệu tập thể đó.
3. Bên được chuyển quyền không được ký kết
hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba, trừ trường hợp được bên chuyển quyền cho phép.
4. Bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa về việc hàng hóa đó được
sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.
5. Bên được chuyển quyền sử dụng sáng chế
theo hợp đồng độc quyền có nghĩa vụ sử dụng sáng chế như chủ sở hữu sáng chế
theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật này.
Điều 143. Các
dạng hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp gồm các dạng sau đây:
1. Hợp đồng độc quyền là hợp đồng mà theo
đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền được độc quyền
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, bên chuyển quyền không được ký kết hợp
đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó nếu được phép của bên được chuyển
quyền.
2. Hợp đồng không độc quyền là hợp đồng mà
theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên chuyển quyền
vẫn có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, quyền ký kết hợp đồng sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp không độc quyền với người khác.
3. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp thứ cấp là hợp đồng mà theo đó bên chuyển quyền là người được chuyển
giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó theo một hợp đồng khác.
Điều 144. Nội
dung hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
1. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển
quyền và bên được chuyển quyền;
b) Căn cứ chuyển giao quyền sử dụng;
c) Dạng hợp đồng;
d) Phạm vi chuyển giao, gồm giới hạn quyền
sử dụng, giới hạn lãnh thổ;
đ) Thời hạn hợp đồng;
e) Giá chuyển giao quyền sử dụng;
g) Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển
quyền và bên được chuyển quyền.
2. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp không được có các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được
chuyển quyền, đặc biệt là các điều khoản không xuất phát từ quyền của bên
chuyển quyền sau đây:
a) Cấm bên được chuyển quyền cải
tiến đối tượng sở hữu công nghiệp, trừ nhãn hiệu; buộc bên được chuyển quyền
phải chuyển giao miễn phí cho bên chuyển quyền các cải tiến đối tượng sở hữu
công nghiệp do bên được chuyển quyền tạo ra hoặc quyền đăng ký sở hữu công
nghiệp, quyền sở hữu công nghiệp đối với các cải tiến đó;
b) Trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế
bên được chuyển quyền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp
theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp sang các vùng lãnh thổ không
phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp tương ứng hoặc
có độc quyền nhập khẩu hàng hóa đó;
c) Buộc bên được chuyển quyền phải
mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết bị
của bên chuyển quyền hoặc của bên thứ ba do bên chuyển quyền chỉ định mà không
nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ do bên được chuyển quyền sản
xuất hoặc cung cấp;
d) Cấm bên được chuyển quyền khiếu
kiện về hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền chuyển giao của bên
chuyển quyền.
3. Các điều khoản trong hợp đồng
thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mặc nhiên bị vô hiệu.
Mục 3. BẮT
BUỘC CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
Điều 145. Căn cứ
bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế
1. Trong các trường hợp sau đây, quyền sử
dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của
Luật này mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế:
a) Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích
công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh,
dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
b) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế
không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế quy định tại khoản 1 Điều 136 và
khoản 5 Điều 142 của Luật này sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng
ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế;
c) Người có nhu cầu sử dụng sáng chế không
đạt được thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp
đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng
với mức giá và các điều kiện thương mại thỏa đáng;
d) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị
coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật
về cạnh tranh.
2. Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có
quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy định tại khoản
1 Điều này không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với điều kiện
việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao
quyền sử dụng sáng chế.
Điều 146. Điều
kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc
1. Quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao
theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải phù hợp với các điều
kiện sau đây:
a) Quyền sử dụng được chuyển giao thuộc
dạng không độc quyền;
b) Quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được
giới hạn trong phạm vi và thời hạn đủ để đáp ứng mục tiêu chuyển giao và chủ
yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại điểm d
khoản 1 Điều 145 của Luật này. Đối với sáng chế trong lĩnh vực công nghệ bán
dẫn thì việc chuyển giao quyền sử dụng chỉ nhằm mục đích công cộng, phi thương
mại hoặc nhằm xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật về
cạnh tranh;
c) Người được chuyển giao quyền sử dụng
không được chuyển nhượng quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng
cùng với cơ sở kinh doanh của mình và không được chuyển giao quyền sử dụng thứ
cấp cho người khác;
d) Người được chuyển giao quyền sử dụng
phải trả cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế một khoản tiền đền bù thỏa
đáng tùy thuộc vào giá trị kinh tế của quyền sử dụng đó trong từng trường hợp
cụ thể phù hợp với khung giá đền bù do Chính phủ quy định.
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản
1 Điều này, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao trong trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 137 của Luật này còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế cơ
bản cũng được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phụ thuộc với những điều kiện
hợp lý;
b) Người được chuyển giao quyền sử dụng
sáng chế cơ bản không được chuyển nhượng quyền đó, trừ trường hợp chuyển nhượng
cùng với toàn bộ quyền đối với sáng chế phụ thuộc.
Điều 147. Thẩm
quyền và thủ tục chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc
1. Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết
định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển
giao quyền sử dụng đối với trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1
Điều 145 của Luật này.
Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành quyết định
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình khi
xảy ra trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 145 của Luật này trên cơ sở
tham khảo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ.
2. Quyết định chuyển giao quyền sử dụng
sáng chế phải ấn định phạm vi và các điều kiện sử dụng phù hợp với quy định tại
Điều 146 của Luật này.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phải thông báo ngay cho người nắm độc
quyền sử dụng sáng chế về quyết định đó.
4. Quyết định chuyển giao quyền sử dụng
sáng chế hoặc từ chối chuyển giao quyền sử dụng sáng chế có thể bị khiếu nại,
bị khởi kiện theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định cụ thể thủ tục
chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế quy định tại Điều này.
Mục 4. ĐĂNG KÝ HỢP
ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Điều
148. Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp[34]
1. Đối với các loại quyền sở hữu công
nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6
của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực
khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
2. Đối với các loại quyền sở hữu công
nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6
của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo
thỏa thuận giữa các bên.
3. Hợp đồng sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp tại khoản 2 Điều này, trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu
công nghiệp mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba.
4. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công
nghiệp mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao
bị chấm dứt.
Điều 149. Hồ sơ
đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Hồ sơ đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng
sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:
1. Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
2. Bản gốc hoặc bản sao hợp lệ hợp đồng;
3. Bản gốc văn bằng bảo hộ đối với trường
hợp chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp;
4. Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu,
văn bản giải trình lý do không đồng ý của bất kỳ đồng chủ sở hữu nào về việc
chuyển giao quyền nếu quyền sở hữu công nghiệp thuộc sở hữu chung;
5. Chứng từ nộp phí, lệ phí;
6. Giấy ủy quyền nếu nộp hồ sơ thông qua
đại diện.
Điều 150. Xử lý
hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ
đăng ký hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sở hữu công nghiệp do Chính phủ quy định.
Điều 151. Dịch vụ
đại diện sở hữu công nghiệp
1. Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp bao
gồm:
a) Đại diện cho tổ chức, cá nhân trước cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công
nghiệp;
b) Tư vấn về vấn đề liên quan đến thủ tục
xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp;
c) Các dịch vụ khác liên quan đến
thủ tục xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp.
2. Đại diện sở hữu công nghiệp gồm tổ chức
kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (sau đây gọi là tổ chức dịch vụ
đại diện sở hữu công nghiệp) và cá nhân hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp
trong tổ chức đó (sau đây gọi là người đại diện sở hữu công nghiệp).
Điều 152. Phạm vi
quyền của đại diện sở hữu công nghiệp
1. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp chỉ được thực hiện các dịch vụ trong phạm vi được ủy quyền và được phép
ủy quyền lại cho tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp khác, nếu được sự
đồng ý bằng văn bản của người ủy quyền.
2. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp có quyền từ bỏ hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp nếu đã chuyển giao
một cách hợp pháp công việc đại diện chưa hoàn tất cho tổ chức dịch vụ đại diện
sở hữu công nghiệp khác.
3. Đại diện sở hữu công nghiệp không được
thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Đồng thời đại diện cho các bên tranh
chấp với nhau về quyền sở hữu công nghiệp;
b) Rút đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ,
tuyên bố từ bỏ sự bảo hộ, rút đơn khiếu nại về việc xác lập quyền sở hữu công
nghiệp nếu không được bên ủy quyền đại diện cho phép;
c) Lừa dối hoặc ép buộc khách hàng trong
việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
Điều 153. Trách
nhiệm của đại diện sở hữu công nghiệp
1. Đại diện sở hữu công nghiệp có trách
nhiệm sau đây:
a) Thông báo rõ các khoản, các mức phí và
lệ phí liên quan đến thủ tục xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công
nghiệp, các khoản và các mức phí dịch vụ theo bảng phí dịch vụ đã đăng ký tại
cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp;
b) Giữ bí mật thông tin, tài liệu được
giao liên quan đến vụ việc mà mình đại diện;
c) Thông tin trung thực và đầy đủ mọi
thông báo, yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực
thi quyền sở hữu công nghiệp; giao kịp thời văn bằng bảo hộ và các quyết định
khác cho bên được đại diện;
d) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bên được đại diện bằng cách đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với bên
được đại diện;
đ) Thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xác lập và bảo đảm thực thi quyền sở hữu công nghiệp mọi thay đổi về tên,
địa chỉ và các thông tin khác của bên được đại diện khi cần thiết.
2. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người được đại diện về hoạt động
đại diện do người đại diện sở hữu công nghiệp thực hiện nhân danh tổ chức.
Điều 154. Điều
kiện kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp[35]
Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây được
kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp với danh nghĩa tổ chức dịch vụ
đại diện sở hữu công nghiệp:
1. Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức
hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt
động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành
nghề tại Việt Nam;
2. Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện
sở hữu công nghiệp được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy
chứng nhận đăng ký hoạt động (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh);
3. Người đứng đầu tổ chức hoặc người được
người đứng đầu tổ chức ủy quyền phải đáp ứng các điều kiện hành nghề dịch vụ
đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 155 của Luật này.
Điều 155. Điều
kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp
1. Cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại
diện sở hữu công nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện
sở hữu công nghiệp;
b) Hoạt động cho một tổ chức dịch vụ đại
diện sở hữu công nghiệp.
2. Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây
thì được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học;
d) Đã trực tiếp làm công tác pháp
luật về sở hữu công nghiệp liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm
công tác thẩm định các loại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại cơ quan quốc gia
hoặc quốc tế về sở hữu công nghiệp liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã tốt
nghiệp khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền
công nhận;
đ) Không phải là công chức, viên
chức đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực
thi quyền sở hữu công nghiệp;
e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về
nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.
3. Chính phủ quy định cụ thể chương
trình đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp, việc kiểm tra nghiệp vụ đại diện
sở hữu công nghiệp, cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp.
1. Tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện
kinh doanh, hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 154
và Điều 155 của Luật này được cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công
nghiệp ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia về đại diện sở hữu công nghiệp và
công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp có căn cứ khẳng định đại
diện sở hữu công nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện kinh doanh, hành nghề
quy định tại Điều 154 và Điều 155 của Luật này, cơ quan quản lý nhà nước về
quyền sở hữu công nghiệp xóa tên đại diện sở hữu công nghiệp đó trong Sổ đăng
ký quốc gia về sở hữu công nghiệp và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.
3. Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công
nghiệp vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 152 và Điều 153 của Luật này thì bị xử
lý theo quy định của pháp luật.
4. Người đại diện sở hữu công nghiệp có
sai phạm về chuyên môn, nghiệp vụ trong khi hành nghề hoặc vi phạm quy định tại
điểm c khoản 3 Điều 152 và điểm a khoản 1 Điều 153 của Luật này thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm có thể bị cảnh cáo, phạt tiền, thu hồi chứng chỉ hành
nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
ĐIỀU KIỆN
BẢO HỘ QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Điều 157. Tổ
chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng[36]
1. Tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền đối
với giống cây trồng là tổ chức, cá nhân chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển
giống cây trồng hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển
giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng.
2. Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1
Điều này bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc
nước có ký kết với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ
giống cây trồng; tổ chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú tại
Việt Nam hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng tại Việt Nam; tổ
chức, cá nhân nước ngoài có trụ sở, địa chỉ thường trú hoặc có cơ sở sản xuất,
kinh doanh giống cây trồng tại nước có ký kết với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây trồng.
Điều 158. Điều
kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ
Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây
trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc Danh mục loài cây trồng
được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, có
tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.
Điều 159. Tính
mới của giống cây trồng
Giống cây trồng được coi là có tính mới
nếu vật liệu nhân giống hoặc sản phẩm thu hoạch của giống cây trồng đó chưa
được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 164 của Luật này hoặc người được
phép của người đó bán hoặc phân phối bằng cách khác nhằm mục đích khai thác
giống cây trồng trên lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký một năm hoặc
ngoài lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký sáu năm đối với giống cây trồng
thuộc loài thân gỗ và cây nho, bốn năm đối với giống cây trồng khác.
Điều 160. Tính
khác biệt của giống cây trồng[37]
1. Giống cây trồng được coi là có tính
khác biệt nếu có khả năng phân biệt rõ ràng với các giống cây trồng khác được
biết đến rộng rãi tại thời điểm nộp đơn hoặc ngày ưu tiên nếu đơn được hưởng
quyền ưu tiên.
2. Giống cây trồng được biết đến rộng rãi
quy định tại khoản 1 Điều này là giống cây trồng thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Giống cây trồng mà vật liệu nhân giống
hoặc vật liệu thu hoạch của giống đó được sử dụng một cách rộng rãi trên thị
trường ở bất kỳ quốc gia nào tại thời điểm nộp đơn đăng ký bảo hộ;
b) Giống cây trồng đã được bảo hộ hoặc đưa
vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào;
c) Giống cây trồng là đối tượng trong đơn
đăng ký bảo hộ hoặc đơn đăng ký vào Danh mục giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia
nào, nếu các đơn này không bị từ chối.
Điều 161. Tính
đồng nhất của giống cây trồng
Giống cây trồng được coi là có tính đồng
nhất nếu có sự biểu hiện như nhau về các tính trạng liên quan, trừ những sai
lệch trong phạm vi cho phép đối với một số tính trạng cụ thể trong quá trình
nhân giống.
Điều 162. Tính ổn
định của giống cây trồng
Giống cây trồng được coi là có tính ổn
định nếu các tính trạng liên quan của giống cây trồng đó vẫn giữ được các biểu
hiện như mô tả ban đầu, không bị thay đổi sau mỗi vụ nhân giống hoặc sau mỗi
chu kỳ nhân giống trong trường hợp nhân giống theo chu kỳ.
Điều 163. Tên của
giống cây trồng[38]
1. Người đăng ký phải đề xuất một tên phù
hợp cho giống cây trồng với cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây
trồng, tên đó phải trùng với tên đã đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia nào có ký
kết với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ giống cây
trồng.
2. Tên của giống cây trồng được coi là phù
hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng phân biệt được với tên của các giống cây
trồng khác được biết đến rộng rãi trong cùng một loài hoặc loài tương tự.
3. Tên của giống cây trồng không được coi
là phù hợp trong các trường hợp sau đây:
a) Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp
chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó;
b) Vi phạm đạo đức xã hội;
c) Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc
tính của giống đó;
d) Dễ gây hiểu nhầm về danh tính của tác
giả;
đ) Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm
lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày
công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng;
e) Ảnh hưởng đến quyền đã có trước của tổ
chức, cá nhân khác.
4. Tổ chức, cá nhân chào bán hoặc
đưa ra thị trường vật liệu nhân giống của giống cây trồng phải sử dụng tên
giống cây trồng như tên đã ghi trong bằng bảo hộ, kể cả sau khi kết thúc thời
hạn bảo hộ.
5. Khi tên giống cây trồng được kết
hợp với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại hoặc các chỉ dẫn tương tự với tên
giống cây trồng đã được đăng ký để chào bán hoặc đưa ra thị trường thì tên đó
vẫn phải có khả năng nhận biết một cách dễ dàng.
XÁC
LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Mục 1. XÁC
LẬP QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Điều 164. Đăng ký
quyền đối với giống cây trồng
1. Để được bảo hộ quyền đối với giống cây
trồng, tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc nộp đơn đăng ký bảo hộ cho cơ quan
quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký bảo
hộ giống cây trồng (sau đây gọi là người đăng ký) bao gồm:
a) Tác giả trực tiếp chọn tạo hoặc phát
hiện và phát triển giống cây trồng bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư cho tác giả
chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng dưới hình thức giao việc,
thuê việc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
c) Tổ chức, cá nhân được chuyển giao, thừa
kế, kế thừa quyền đăng ký bảo hộ giống cây trồng.
3. Giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát
hiện và phát triển do sử dụng ngân sách nhà nước hoặc từ dự án do Nhà nước quản
lý thì quyền đối với giống cây trồng đó thuộc về Nhà nước. Chính phủ quy định
cụ thể việc đăng ký quyền đối với giống cây trồng quy định tại khoản này.
Điều 165. Đăng ký
quyền đối với giống cây trồng[39]
1. Tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 157
của Luật này nộp đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng (sau đây gọi là đơn
đăng ký bảo hộ) trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
2. Tổ chức đáp ứng các điều kiện sau đây
được kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng với danh nghĩa
tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng:
a) Là doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức
hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ Việt Nam được thành
lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ tổ chức hành nghề luật sư
nước ngoài hành nghề tại Việt Nam;
b) Có chức năng hoạt động dịch vụ đại diện
quyền đối với giống cây trồng được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh);
3. Người đứng đầu tổ chức hoặc người được
người đứng đầu tổ chức ủy quyền phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 4
và khoản 5 Điều này được hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây
trồng.
4. Cá nhân được phép hành nghề dịch vụ đại
diện quyền đối với giống cây trồng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện
quyền đối với giống cây trồng;
b) Hoạt động trong một tổ chức dịch vụ đại
diện quyền đối với giống cây trồng.
5. Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây
được cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có bằng tốt nghiệp đại học;
d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về
quyền đối với giống cây trồng liên tục từ năm năm trở lên hoặc đã trực tiếp làm
công tác thẩm định các loại đơn đăng ký quyền đối với giống cây trồng tại cơ
quan quốc gia hoặc quốc tế về quyền đối với giống cây trồng liên tục từ năm năm
trở lên hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về quyền đối với giống cây
trồng được cơ quan có thẩm quyền công nhận;
đ) Không phải là công chức, viên chức đang
làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo đảm thực thi quyền
đối với giống cây trồng;
e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về
nghiệp vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng do cơ quan có thẩm quyền tổ
chức.
6. Chính phủ quy định cụ thể về đại diện
hợp pháp nộp đơn và tổ chức dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.
Điều 166. Nguyên
tắc nộp đơn đầu tiên đối với giống cây trồng
1. Trường hợp có từ hai người trở lên độc
lập nộp đơn đăng ký bảo hộ vào các ngày khác nhau cho cùng một giống cây trồng
thì Bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có thể được cấp cho người đăng ký hợp lệ
sớm nhất.
2. Trường hợp có nhiều đơn đăng ký bảo hộ
cho cùng một giống cây trồng được nộp vào cùng một ngày thì Bằng bảo hộ giống
cây trồng chỉ có thể được cấp cho người nào đứng tên nộp một đơn duy nhất theo
sự thỏa thuận của tất cả những người đăng ký; nếu những người đăng ký không
thỏa thuận được thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng
sẽ xem xét để cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở xác định người đầu
tiên đã chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng đó.
Điều 167. Nguyên
tắc ưu tiên đối với đơn đăng ký bảo hộ
1. Người đăng ký có quyền yêu cầu được
hưởng quyền ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký bảo hộ được nộp trong thời hạn
mười hai tháng kể từ ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ cùng một giống cây trồng tại
nước có ký kết với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thỏa thuận về bảo hộ
giống cây trồng. Ngày
nộp đơn đầu tiên không tính vào thời hạn này.
2. Để được hưởng quyền ưu tiên,
người đăng ký phải thể hiện yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên trong đơn đăng ký
bảo hộ. Trong thời hạn chậm nhất là ba tháng, kể từ ngày nộp đơn đăng ký, người
đăng ký phải cung cấp bản sao các tài liệu về đơn đầu tiên được cơ quan có thẩm
quyền xác nhận và các mẫu hoặc bằng chứng khác xác nhận giống cây trồng ở hai
đơn là một và phải nộp lệ phí. Người đăng ký có quyền cung cấp thông tin, tài
liệu hoặc vật liệu cần thiết cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với
giống cây trồng thẩm định theo quy định tại Điều 176 và Điều 178 của Luật này
trong thời hạn hai năm sau ngày kết thúc thời hạn hưởng quyền ưu tiên hoặc
trong thời hạn thích hợp tùy thuộc vào loài của giống cây trồng trong đơn, sau
khi đơn đầu tiên bị từ chối hoặc rút bỏ.
3. Đơn đăng ký bảo hộ được hưởng
quyền ưu tiên thì ngày ưu tiên là ngày nộp đơn đầu tiên.
4. Trong thời hạn quy định tại khoản
1 Điều này, việc nộp một đơn khác hoặc công bố hoặc sử dụng giống cây trồng là
đối tượng của đơn đầu tiên không bị coi là căn cứ để từ chối đơn đăng ký bảo hộ
được hưởng quyền ưu tiên.
Điều 168. Bằng
bảo hộ giống cây trồng và Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ
1. Bằng bảo hộ giống cây trồng ghi nhận
tên giống và loài cây trồng, tên chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng (sau
đây gọi là chủ bằng bảo hộ), tên tác giả giống cây trồng và thời hạn bảo hộ
quyền đối với giống cây trồng.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối
với giống cây trồng ghi nhận việc cấp Bằng bảo hộ và nội dung Bằng bảo hộ vào
Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ và lưu giữ các thông tin đó.
Điều 169. Hiệu
lực của Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực
trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
2. Bằng bảo hộ giống cây trồng có hiệu lực
kể từ ngày cấp đến hết hai mươi lăm năm đối với giống cây thân gỗ và cây nho;
đến hết hai mươi năm đối với các giống cây trồng khác.
3. Bằng bảo hộ giống cây trồng có thể bị
đình chỉ hoặc hủy bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 170 và Điều 171 của Luật
này.
Điều 170. Đình
chỉ, phục hồi hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Bằng bảo hộ giống cây trồng có thể bị
đình chỉ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Giống cây trồng được bảo hộ không còn
đáp ứng điều kiện về tính đồng nhất và tính ổn định như tại thời điểm cấp Bằng;
b) Chủ bằng bảo hộ không nộp lệ phí duy
trì hiệu lực theo quy định;
c) Chủ bằng bảo hộ không cung cấp tài
liệu, vật liệu nhân giống cần thiết để duy trì và lưu giữ giống cây trồng theo
quy định;
d) Chủ bằng bảo hộ không thay đổi tên
giống cây trồng theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với
giống cây trồng.
2. Trong các trường hợp quy định tại các
điểm a, c và d khoản 1 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với
giống cây trồng ra quyết định đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.
3. Trong trường hợp quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này, khi hết thời hạn nộp lệ phí duy trì hiệu lực, cơ quan quản lý
nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ra quyết định đình chỉ hiệu lực Bằng
bảo hộ giống cây trồng kể từ ngày đầu tiên của năm hiệu lực tiếp theo mà lệ phí
duy trì hiệu lực không được nộp.
4. Trong trường hợp quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này, mọi tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà
nước về quyền đối với giống cây trồng đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây
trồng.
Căn cứ vào kết quả xem xét đơn yêu cầu
đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng và ý kiến của các bên liên quan,
cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ra thông báo từ chối
đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ hoặc ra quyết định đình chỉ hiệu lực Bằng bảo hộ.
5. Trong các trường hợp quy định tại khoản
1 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng đăng
thông báo trên tạp chí chuyên ngành và nêu rõ lý do đình chỉ, đồng thời gửi
thông báo cho chủ bằng bảo hộ. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thông
báo, chủ bằng bảo hộ có quyền gửi đơn đề nghị được khắc phục các lý do bị đình
chỉ cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng và nộp lệ phí
để phục hồi hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng. Trong thời hạn chín mươi ngày
kể từ ngày nộp đơn, chủ bằng bảo hộ phải khắc phục những lý do bị đình chỉ đối
với các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này. Cơ quan
quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng xem xét phục hồi hiệu lực
Bằng bảo hộ và thông báo trên tạp chí chuyên ngành.
Trong trường hợp quy định tại điểm a khoản
1 Điều này, hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng sẽ được phục hồi sau khi chủ
sở hữu chứng minh được giống đã đáp ứng các điều kiện về tính đồng nhất và tính
ổn định và được cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng xác
nhận.
Điều 171. Hủy bỏ
hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Bằng bảo hộ giống cây trồng bị hủy bỏ
hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng do
người không có quyền đăng ký đứng tên, trừ trường hợp quyền đối với giống cây
trồng được chuyển lại cho người có quyền đăng ký;
b) Giống cây trồng được bảo hộ không đáp
ứng các điều kiện về tính mới hoặc tính khác biệt tại thời điểm cấp Bằng bảo hộ
giống cây trồng;
c) Giống cây trồng không đáp ứng các điều
kiện về tính đồng nhất hoặc tính ổn định trong trường hợp Bằng bảo hộ giống cây
trồng được cấp dựa trên kết quả khảo nghiệm kỹ thuật do người đăng ký thực
hiện.
2. Trong thời hạn hiệu lực của Bằng bảo hộ
giống cây trồng, mọi tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước
về quyền đối với giống cây trồng hủy bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.
Căn cứ vào kết quả xem xét đơn yêu cầu hủy
bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng và ý kiến của các bên liên quan, cơ
quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ra thông báo từ chối hủy
bỏ hoặc ra quyết định hủy bỏ hiệu lực Bằng bảo hộ giống cây trồng.
3. Trong trường hợp Bằng bảo hộ giống cây
trồng bị hủy bỏ, mọi giao dịch phát sinh trên cơ sở giống cây trồng được cấp
Bằng bảo hộ đó bị vô hiệu. Việc xử lý giao dịch vô hiệu thực hiện theo quy định
của Bộ luật dân sự.
Điều 172. Sửa
đổi, cấp lại Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Chủ bằng bảo hộ có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng thay đổi, sửa chữa sai
sót liên quan đến tên và địa chỉ của chủ bằng bảo hộ với điều kiện phải nộp
phí, lệ phí. Trong trường hợp những sai sót này là do cơ quan quản lý nhà nước
về quyền đối với giống cây trồng gây ra thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền
đối với giống cây trồng phải sửa chữa, chủ bằng bảo hộ không phải nộp phí, lệ
phí.
2. Chủ bằng bảo hộ có quyền yêu cầu cơ
quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng cấp lại Bằng bảo hộ
giống cây trồng trong trường hợp bị mất hoặc hư hỏng với điều kiện phải nộp
phí, lệ phí.
Điều 173. Công bố
quyết định liên quan đến Bằng bảo hộ giống cây trồng
Quyết định về việc cấp, cấp lại, đình chỉ,
hủy bỏ, sửa đổi Bằng bảo hộ giống cây trồng được cơ quan quản lý nhà nước về
quyền đối với giống cây trồng công bố trên tạp chí chuyên ngành về giống cây
trồng trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Mục 2. ĐƠN VÀ THỦ
TỤC XỬ LÝ ĐƠN ĐĂNG KÝ BẢO HỘ
1. Đơn đăng ký bảo hộ gồm các tài liệu sau
đây:
a) Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định;
b) Ảnh chụp, tờ khai kỹ thuật theo mẫu quy
định;
c) Giấy ủy quyền, nếu đơn được nộp thông
qua đại diện;
d) Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu
người đăng ký là người được chuyển giao quyền đăng ký;
đ) Tài liệu chứng minh quyền ưu
tiên, nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên;
e) Chứng từ nộp phí, lệ phí.
2. Đơn đăng ký bảo hộ và các giấy tờ
giao dịch giữa người đăng ký và cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống
cây trồng phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu sau đây có thể được
làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi cơ quan quản lý
nhà nước về quyền đối với giống cây trồng yêu cầu:
a) Giấy ủy quyền;
b) Tài liệu chứng minh quyền đăng
ký;
c) Tài liệu chứng minh quyền ưu
tiên;
d) Các tài liệu khác để bổ trợ cho
đơn.
3. Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên
của đơn đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng gồm:
a) Bản sao đơn hoặc các đơn đầu tiên
có xác nhận của cơ quan nhận đơn;
b) Giấy chuyển giao, thừa kế, kế
thừa quyền ưu tiên, nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác.
4. Mỗi đơn chỉ được đăng ký bảo hộ
cho một giống cây trồng.
Điều 175. Tiếp
nhận đơn đăng ký bảo hộ, ngày nộp đơn
1. Đơn đăng ký bảo hộ chỉ được cơ quan
quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng tiếp nhận khi có đủ các tài
liệu quy định tại khoản 1 Điều 174 của Luật này.
2. Ngày nộp đơn là ngày đơn được cơ quan
quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng tiếp nhận.
Điều 176. Thẩm
định hình thức đơn đăng ký bảo hộ
1. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối
với giống cây trồng thẩm định hình thức đơn trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ
ngày nhận đơn để xác định tính hợp lệ của đơn.
2. Đơn đăng ký bảo hộ được coi là không
hợp lệ trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình
thức theo quy định;
b) Giống cây trồng nêu trong đơn không
thuộc loài cây trồng có tên trong Danh mục loài cây trồng được bảo hộ;
c) Đơn do người không có quyền đăng ký
nộp, kể cả trường hợp quyền đăng ký thuộc nhiều tổ chức, cá nhân, nhưng một
hoặc nhiều người trong số đó không đồng ý thực hiện việc đăng ký.
3. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối
với giống cây trồng thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thông báo từ chối chấp nhận đơn đối với
các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này, trong đó nêu rõ
lý do từ chối;
b) Thông báo cho người đăng ký khắc phục
những thiếu sót trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và ấn
định trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người đăng ký
phải khắc phục các thiếu sót đó;
c) Thông báo từ chối chấp nhận đơn, nếu
người đăng ký không khắc phục thiếu sót hoặc không có ý kiến xác đáng phản đối
thông báo quy định tại điểm b khoản này;
d) Thông báo chấp nhận đơn, yêu cầu người
đăng ký gửi mẫu giống đến cơ sở khảo nghiệm để tiến hành khảo nghiệm kỹ thuật
và thực hiện thủ tục quy định tại Điều 178 của Luật này nếu đơn hợp lệ hoặc
người đăng ký khắc phục thiếu sót đạt yêu cầu hoặc có ý kiến xác đáng phản đối
thông báo quy định tại điểm b khoản này.
Điều 177. Công bố
đơn đăng ký bảo hộ
1. Trường hợp đơn được chấp nhận hợp lệ,
cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng công bố đơn hợp lệ
trên tạp chí chuyên ngành về giống cây trồng trong thời hạn chín mươi ngày, kể
từ ngày đơn được chấp nhận.
2. Nội dung công bố đơn gồm số đơn, ngày
nộp đơn, đại diện (nếu có), người đăng ký, chủ sở hữu, tên giống cây trồng, tên
loài cây trồng, ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ.
Điều 178. Thẩm
định nội dung đơn đăng ký bảo hộ
1. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối
với giống cây trồng thẩm định nội dung đối với đơn được chấp nhận là hợp lệ. Nội
dung thẩm định bao gồm:
a) Thẩm định tính mới và tên gọi phù hợp
của giống cây trồng;
b) Thẩm định kết quả khảo nghiệm kỹ thuật
đối với giống cây trồng.
2. Khảo nghiệm kỹ thuật là tiến hành các
thí nghiệm nhằm xác định tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của
giống cây trồng.
Việc khảo nghiệm kỹ thuật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân có năng lực tiến hành khảo nghiệm
giống cây trồng thực hiện theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn.
Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với
giống cây trồng có thể sử dụng kết quả khảo nghiệm kỹ thuật đã có trước đó.
3. Thời hạn thẩm định kết quả khảo nghiệm
kỹ thuật là chín mươi ngày, kể từ ngày nhận được kết quả khảo nghiệm kỹ thuật.
Điều 179. Sửa
đổi, bổ sung đơn đăng ký bảo hộ
1. Trước khi cơ quan quản lý nhà nước về
quyền đối với giống cây trồng thông báo từ chối cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
hoặc quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng, người đăng ký có các quyền sau
đây:
a) Sửa đổi, bổ sung đơn nhưng không được làm
thay đổi bản chất đơn đăng ký bảo hộ;
b) Yêu cầu ghi nhận thay đổi tên, địa chỉ
của người đăng ký;
c) Yêu cầu ghi nhận thay đổi người đăng ký
do chuyển nhượng đơn theo hợp đồng hoặc thừa kế, kế thừa;
2. Người yêu cầu thực hiện các thủ tục quy
định tại khoản 1 Điều này phải nộp phí, lệ phí.
Điều 180. Rút đơn
đăng ký bảo hộ
1. Trước khi cơ quan quản lý nhà nước về
quyền đối với giống cây trồng quyết định cấp hay từ chối cấp Bằng bảo hộ giống
cây trồng, người đăng ký có quyền rút đơn đăng ký bảo hộ. Yêu cầu rút đơn phải
được lập thành văn bản.
2. Từ thời điểm người đăng ký rút đơn đăng
ký bảo hộ, mọi thủ tục tiếp theo liên quan đến đơn đó bị chấm dứt; các khoản
phí, lệ phí đã nộp liên quan đến những thủ tục chưa bắt đầu tiến hành được hoàn
trả theo yêu cầu của người đăng ký.
Điều 181. Ý kiến
của người thứ ba về việc cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
Kể từ ngày đơn đăng ký bảo hộ giống cây
trồng được công bố trên tạp chí chuyên ngành về giống cây trồng đến trước khi
ra quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng, bất kỳ người thứ ba nào cũng có
quyền có ý kiến về việc cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng với cơ quan quản lý nhà
nước về quyền đối với giống cây trồng. Ý kiến phải được lập thành văn bản và
kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Điều 182. Từ chối
cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
Đơn đăng ký bảo hộ bị từ chối cấp Bằng bảo
hộ giống cây trồng trong trường hợp giống cây trồng không đáp ứng được các điều
kiện quy định tại Điều 176 và Điều 178 của Luật này. Trong trường hợp từ chối
cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với
giống cây trồng thực hiện các thủ tục sau đây:
1. Thông báo về dự định từ chối cấp Bằng
bảo hộ giống cây trồng, trong đó phải nêu rõ lý do và ấn định thời hạn để người
đăng ký khắc phục thiếu sót hoặc có ý kiến phản đối dự định từ chối;
2. Thông báo từ chối cấp Bằng bảo hộ
giống cây trồng nếu người đăng ký không khắc phục được các thiếu sót và không
có ý kiến xác đáng phản đối dự định từ chối quy định tại khoản 1 Điều này;
3. Thực hiện các thủ tục quy định tại Điều
183 của Luật này, nếu người đăng ký khắc phục được các thiếu sót hoặc có ý kiến
xác đáng phản đối dự định từ chối quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 183. Cấp
Bằng bảo hộ giống cây trồng
Trong trường hợp đơn đăng ký bảo hộ không
bị từ chối theo quy định tại Điều 182 của Luật này và người đăng ký nộp lệ phí
thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng quyết định cấp
Bằng bảo hộ giống cây trồng và ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về giống cây
trồng được bảo hộ.
Điều 184. Khiếu
nại việc cấp hoặc từ chối cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng
1. Người đăng ký và bất kỳ người thứ ba
nào đều có quyền khiếu nại quyết định cấp hoặc từ chối cấp Bằng bảo hộ giống
cây trồng.
2. Việc giải quyết khiếu nại quyết định
cấp hoặc từ chối cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng được thực hiện theo quy định
của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
NỘI DUNG
VÀ GIỚI HẠN QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Mục 1. NỘI DUNG
QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Điều 185. Quyền
tác giả giống cây trồng
Tác giả giống cây trồng có các quyền sau
đây:
1. Được ghi tên với danh nghĩa là tác giả
trong Bằng bảo hộ giống cây trồng, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được
bảo hộ và trong các tài liệu công bố về giống cây trồng;
2. Nhận thù lao theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 191 của Luật này.
Điều 186. Quyền
của chủ bằng bảo hộ[40]
1. Chủ bằng bảo hộ có quyền sử dụng hoặc
cho phép người khác sử dụng các quyền sau đây liên quan đến vật liệu nhân giống
của giống đã được bảo hộ:
a) Sản xuất hoặc nhân giống;
b) Chế biến nhằm mục đích nhân giống;
c) Chào hàng;
d) Bán hoặc thực hiện các hoạt động tiếp
cận thị trường khác;
đ) Xuất khẩu;
e) Nhập khẩu;
g) Lưu giữ để thực hiện các hành vi quy
định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này.
2. Quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây
trồng quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với vật liệu thu hoạch thu
được từ việc sử dụng bất hợp pháp vật liệu nhân giống của giống cây trồng được
bảo hộ, trừ trường hợp chủ bằng bảo hộ đã có cơ hội hợp lý để thực hiện quyền
của mình đối với vật liệu nhân giống nhưng không thực hiện.
3. Ngăn cấm người khác sử dụng giống cây
trồng theo quy định tại Điều 188 của Luật này.
4. Để thừa kế, kế thừa quyền đối với giống
cây trồng và chuyển giao quyền đối với giống cây trồng theo quy định tại Chương
XV của Luật này.
Điều 187. Mở rộng
quyền của chủ bằng bảo hộ[41]
Quyền của chủ bằng bảo hộ được mở rộng đối
với các giống cây trồng sau đây:
1. Giống cây trồng có nguồn gốc chủ yếu từ
giống cây trồng được bảo hộ, trừ trường hợp giống cây trồng được bảo hộ có
nguồn gốc chủ yếu từ một giống cây trồng đã được bảo hộ khác.
Giống cây trồng được coi là có nguồn gốc
chủ yếu từ giống được bảo hộ, nếu giống cây trồng đó vẫn giữ lại biểu hiện của
các tính trạng thu được từ kiểu gen hoặc sự phối hợp các kiểu gen của giống
được bảo hộ, trừ những tính trạng khác biệt là kết quả của sự tác động vào
giống được bảo hộ;
2. Giống cây trồng không khác biệt rõ ràng
với giống cây trồng đã được bảo hộ;
3. Giống cây trồng mà việc sản xuất đòi
hỏi phải sử dụng lặp lại giống cây trồng đã được bảo hộ.
Điều 188. Hành vi
xâm phạm quyền đối với giống cây trồng
Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm
quyền của chủ bằng bảo hộ:
1. Khai thác, sử dụng các quyền của chủ
bằng bảo hộ mà không được phép của chủ bằng bảo hộ;
2. Sử dụng tên giống cây trồng mà tên đó
trùng hoặc tương tự với tên giống cây trồng đã được bảo hộ cho giống cây trồng
cùng loài hoặc loài liên quan gần gũi với giống cây trồng đã được bảo hộ;
3. Sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ
mà không trả tiền đền bù theo quy định tại Điều 189 của Luật này.
Điều 189. Quyền
tạm thời đối với giống cây trồng
1. Quyền tạm thời đối với giống cây trồng
là quyền của người đăng ký bảo hộ giống cây trồng phát sinh từ ngày đơn đăng ký
bảo hộ giống cây trồng được công bố đến ngày cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng.
Trong trường hợp giống cây trồng không được cấp Bằng bảo hộ thì người đăng ký
bảo hộ không có quyền này.
2. Trong trường hợp người đăng ký biết
giống cây trồng đăng ký bảo hộ đang được người khác sử dụng nhằm mục đích
thương mại thì người đăng ký bảo hộ giống cây trồng có quyền thông báo bằng văn
bản cho người sử dụng về việc đã nộp đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng, trong
đó ghi rõ ngày nộp đơn và ngày mà đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng được công
bố để người đó chấm dứt việc sử dụng giống cây trồng hoặc tiếp tục sử dụng.
3. Trong trường hợp đã được thông báo theo
quy định tại khoản 2 Điều này mà người được thông báo vẫn tiếp tục sử dụng
giống cây trồng thì khi Bằng bảo hộ giống cây trồng được cấp, chủ bằng bảo hộ
có quyền yêu cầu người đã sử dụng giống cây trồng phải trả một khoản tiền đền
bù tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng đó trong phạm
vi và thời hạn sử dụng tương ứng.
Mục 2. GIỚI HẠN
QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Điều 190. Hạn chế
quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng[42]
1. Các hành vi sau đây không bị coi là xâm
phạm quyền đối với giống cây trồng đã được bảo hộ:
a) Sử dụng giống cây trồng phục vụ nhu cầu
cá nhân và phi thương mại;
b) Sử dụng giống cây trồng nhằm mục đích
thử nghiệm;
c) Sử dụng giống cây trồng để tạo ra giống
cây trồng khác, trừ trường hợp quy định tại Điều 187 của Luật này;
d) Hộ sản xuất cá thể sử dụng sản phẩm thu
hoạch từ giống cây trồng để tự nhân giống và gieo trồng cho vụ sau trên diện
tích đất của mình.
2. Quyền đối với giống cây trồng không
được áp dụng đối với các hành vi liên quan đến vật liệu của giống cây trồng
được bảo hộ do chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng bảo hộ cho phép bán
hoặc bằng cách khác đưa ra thị trường Việt Nam hoặc thị trường nước ngoài, trừ
các hành vi sau đây:
a) Liên quan đến việc nhân tiếp
giống cây trồng đó;
b) Liên quan đến việc xuất khẩu các
vật liệu của giống cây trồng có khả năng nhân giống vào những nước không bảo hộ
các chi hoặc loài cây trồng đó, trừ trường hợp xuất khẩu vật liệu nhằm mục đích
tiêu dùng.
Điều 191. Nghĩa
vụ của chủ bằng bảo hộ và tác giả giống cây trồng
1. Chủ bằng bảo hộ có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Trả thù lao cho tác giả giống cây trồng
theo thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì mức trả thù lao phải tuân
theo quy định của pháp luật;
b) Nộp lệ phí duy trì hiệu lực Bằng bảo hộ
giống cây trồng theo quy định;
c) Lưu giữ giống cây trồng được bảo hộ,
cung cấp vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ cho cơ quan quản
lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng và duy trì tính ổn định của giống
cây trồng được bảo hộ theo quy định.
2. Tác giả giống cây trồng có nghĩa vụ
giúp chủ bằng bảo hộ duy trì vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo
hộ.
CHUYỂN
GIAO QUYỀN ĐỐI VỚI GIỐNG CÂY TRỒNG
Điều 192. Chuyển
giao quyền sử dụng giống cây trồng
1. Chuyển giao quyền sử dụng giống cây
trồng là việc chủ bằng bảo hộ cho phép người khác thực hiện một hoặc một số
hành vi thuộc quyền sử dụng đối với giống cây trồng của mình.
2. Trường hợp quyền sử dụng giống cây
trồng thuộc đồng sở hữu thì việc chuyển giao quyền sử dụng cho người khác phải
được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu.
3. Việc chuyển giao quyền sử dụng giống
cây trồng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản.
4. Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
giống cây trồng không được có những điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên
nhận chuyển giao quyền sử dụng, đặc biệt là những điều khoản hạn chế không xuất
phát từ quyền của bên chuyển giao quyền sử dụng đối với giống cây trồng tương
ứng hoặc không nhằm bảo vệ các quyền đó.
Điều 193. Quyền
của các bên trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
1. Bên chuyển giao quyền sử dụng có quyền
cho phép hoặc không cho phép bên nhận chuyển giao quyền sử dụng chuyển giao lại
quyền sử dụng cho bên thứ ba.
2. Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng có
các quyền sau đây:
a) Chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ
ba, nếu được bên giao quyền sử dụng cho phép;
b) Yêu cầu bên giao quyền sử dụng thực
hiện các biện pháp cần thiết phù hợp để chống lại các hành vi xâm phạm của bên
thứ ba gây thiệt hại cho mình;
c) Tiến hành các biện pháp cần thiết để
ngăn chặn các hành vi xâm phạm của bên thứ ba, nếu trong thời hạn ba tháng, kể
từ ngày nhận được yêu cầu của bên chuyển giao quyền sử dụng không thực hiện yêu
cầu quy định tại điểm b khoản này.
Điều 194. Chuyển
nhượng quyền đối với giống cây trồng[43]
1. Chuyển nhượng quyền đối với giống cây
trồng là việc chủ bằng bảo hộ giống cây trồng chuyển giao toàn bộ quyền đối với
giống cây trồng đó cho bên nhận chuyển nhượng. Bên nhận chuyển nhượng trở thành
chủ bằng bảo hộ giống cây trồng kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký
tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng theo thủ tục do
pháp luật quy định.
2. Trường hợp quyền đối với giống cây
trồng thuộc đồng sở hữu thì việc chuyển nhượng cho người khác phải được sự đồng
ý của tất cả các đồng chủ sở hữu.
3. Việc chuyển nhượng quyền đối với giống
cây trồng phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản.
4. Việc chuyển nhượng quyền đối với giống
cây trồng tạo ra từ ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật
chuyển giao công nghệ.
Điều 195. Căn cứ
và điều kiện bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng
1. Trong các trường hợp sau đây, quyền sử
dụng giống cây trồng được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 196 của Luật
này mà không cần được sự đồng ý của chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng
bảo hộ chuyển giao quyền sử dụng độc quyền (sau đây gọi là người nắm độc quyền
sử dụng giống cây trồng):
a) Việc sử dụng giống cây trồng nhằm mục
đích công cộng, phi thương mại, phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh, an ninh
lương thực và dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của
xã hội;
b) Người có nhu cầu và năng lực sử dụng
giống cây trồng không đạt được thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng
giống cây trồng về việc ký kết hợp đồng sử dụng giống cây trồng mặc dù trong
một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện
thương mại thỏa đáng;
c) Người nắm độc quyền sử dụng giống cây
trồng bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp
luật về cạnh tranh.
2. Người nắm độc quyền sử dụng giống cây
trồng có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy định
tại khoản 1 Điều này không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với
điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được
chuyển giao quyền sử dụng.
3. Quyền sử dụng giống cây trồng được
chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải phù hợp
với các điều kiện sau đây:
a) Quyền sử dụng được chuyển giao không
phải là quyền độc quyền;
b) Quyền sử dụng được chuyển giao chỉ
được giới hạn trong phạm vi và thời hạn đủ để đáp ứng mục đích chuyển giao và
chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại
điểm c khoản 1 Điều này;
c) Người được chuyển giao quyền sử dụng
không được chuyển nhượng quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển
nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của mình và không được chuyển giao quyền sử
dụng thứ cấp cho người khác;
d) Người được chuyển giao quyền sử dụng
phải đền bù thỏa đáng cho người nắm độc quyền sử dụng giống cây trồng tùy thuộc
vào giá trị kinh tế của quyền sử dụng đó trong từng trường hợp cụ thể, phù hợp
với khung giá đền bù do Chính phủ quy định.
4. Chính phủ quy định cụ thể các trường
hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với giống cây trồng và khung giá đền
bù quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.
Điều 196. Thẩm
quyền và thủ tục chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng theo quyết định bắt
buộc
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng thuộc lĩnh vực
quản lý nhà nước của mình trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao quyền sử
dụng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 195 của Luật này.
Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành quyết định
chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của
mình trên cơ sở tham khảo ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối
với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 195 của Luật này.
2. Quyết định chuyển giao quyền sử dụng
giống cây trồng phải ấn định phạm vi và các điều kiện sử dụng phù hợp với quy
định tại khoản 3 Điều 195 của Luật này.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng phải thông báo ngay cho người
nắm độc quyền sử dụng giống cây trồng về quyết định đó.
4. Quyết định chuyển giao quyền sử dụng
giống cây trồng hoặc từ chối chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng có thể
bị khiếu nại, bị khởi kiện theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định cụ thể thủ tục chuyển
giao quyền sử dụng đối với giống cây trồng quy định tại Điều này.
Chủ bằng bảo hộ bị bắt buộc phải chuyển
giao quyền sử dụng giống cây trồng có các quyền sau đây:
1. Nhận đền bù tương ứng với giá trị kinh
tế của quyền sử dụng đó hoặc tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng theo
hợp đồng có phạm vi và thời hạn tương ứng;
2. Yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước về
quyền đối với giống cây trồng sửa đổi, đình chỉ hiệu lực, hủy bỏ hiệu lực của
việc chuyển giao bắt buộc quyền sử dụng khi điều kiện dẫn đến việc chuyển giao
đó đã chấm dứt và việc sửa đổi, hủy bỏ, đình chỉ hiệu lực đó không gây thiệt
hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng bắt buộc.
QUY
ĐỊNH CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền
áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:
a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn
ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính
công khai, bồi thường thiệt hại;
c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo
quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có
khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202
của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh
tranh.
4.[44] Tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành
vi xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí
hợp lý để thuê luật sư hoặc các chi phí khác theo quy định của pháp luật.
5.[45] Tổ chức, cá nhân lạm dụng thủ tục bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ mà gây
thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lạm dụng
thủ tục đó phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong
đó bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư. Hành vi lạm dụng thủ
tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục này.
Điều 199. Biện
pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ
xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.
2. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm
soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn
chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật này và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Điều 200. Thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công
an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ.
2. Việc áp dụng biện pháp dân sự,
hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
3. Việc áp dụng biện pháp hành
chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường,
Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này
có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định
của pháp luật.
4. Việc áp dụng biện pháp kiểm
soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm
quyền của cơ quan hải quan.
Điều 201. Giám
định về sở hữu trí tuệ[46]
1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ
chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức,
nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự
nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư, trừ tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
hành nghề tại Việt Nam đáp ứng các điều kiện sau đây được thực hiện hoạt động
giám định về sở hữu trí tuệ:
a) Có nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật
đáp ứng yêu cầu tổ chức hoạt động giám định theo quy định của pháp luật;
b) Có chức năng thực hiện hoạt động giám
định về sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động;
c) Người đứng đầu tổ chức hoặc người được
người đứng đầu tổ chức ủy quyền có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ.
3. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:
a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ;
b) Thường trú tại Việt Nam;
c) Có phẩm chất đạo đức tốt;
d) Có trình độ đại học trở lên về chuyên
ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động
chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp
vụ về giám định.
4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
có quyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình
đang thụ lý.
5. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ
chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầu giám định về sở hữu trí tuệ để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
6. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và
hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.
XỬ LÝ XÂM
PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ
Điều 202. Các
biện pháp dân sự
Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau
đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
1. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
2. Buộc xin lỗi, cải chính công
khai;
3. Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
4. Buộc bồi thường thiệt hại;
5. Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối
hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên
liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng
hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả
năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 203. Quyền
và nghĩa vụ chứng minh của đương sự
1. Nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ có quyền và nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại
Điều 79 của Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều này.
2. Nguyên đơn chứng minh mình là chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ bằng một trong các chứng cứ sau đây:
a) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quyền
tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, văn bằng bảo hộ; bản trích
lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan, Sổ đăng ký quốc gia
về sở hữu công nghiệp, Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ;
b) Chứng cứ cần thiết để chứng minh căn cứ
phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp không có Giấy chứng
nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; chứng cứ
cần thiết để chứng minh quyền đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại, nhãn
hiệu nổi tiếng;
c) Bản sao hợp đồng sử dụng đối tượng sở
hữu trí tuệ trong trường hợp quyền sử dụng được chuyển giao theo hợp đồng.
3. Nguyên đơn phải cung cấp các chứng cứ
về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
4. Trong vụ kiện về xâm phạm quyền đối với
sáng chế là một quy trình sản xuất sản phẩm, bị đơn phải chứng minh sản phẩm
của mình được sản xuất theo một quy trình khác với quy trình được bảo hộ trong
các trường hợp sau đây:
a) Sản phẩm được sản xuất theo quy
trình được bảo hộ là sản phẩm mới;
b) Sản phẩm được sản xuất theo quy
trình được bảo hộ không phải là sản phẩm mới nhưng chủ sở hữu sáng chế cho rằng
sản phẩm do bị đơn sản xuất là theo quy trình được bảo hộ và mặc dù đã sử dụng
các biện pháp thích hợp nhưng vẫn không thể xác định được quy trình do bị đơn
sử dụng.
5. Trong trường hợp một bên trong vụ
kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ chứng minh được chứng cứ thích hợp để chứng
minh cho yêu cầu của mình bị bên kia kiểm soát do đó không thể tiếp cận được
thì có quyền yên cầu Tòa án buộc bên kiểm soát chứng cứ phải đưa ra chứng cứ
đó.
6. Trong trường hợp có yêu cầu bồi
thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và
nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 của
Luật này.
Điều 204. Nguyên
tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1. Thiệt hại do hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các
tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội
kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm
các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác
về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học;
người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí,
giống cây trồng.
2. Mức độ thiệt hại được xác định
trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do
hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
Điều 205. Căn cứ
xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1.[47]
Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền
yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền
cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được
tính vào tổng thiệt hại vật chất;
b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng
sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng
đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương
ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;
c) Thiệt hại vật chất theo các cách tính
khác do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đưa ra phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Trong trường hợp không thể xác định
được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại các điểm
a, b và c khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Tòa án ấn định,
tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.
2. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh
được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho
mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ
năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại.
3. Ngoài khoản bồi thường thiệt hại quy
định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu
cầu Tòa án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải
thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư.
Điều 206. Quyền
yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện,
chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong các trường hợp sau đây:
a) Đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại không
thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
b) Hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ hoặc chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
có nguy cơ bị tẩu tán hoặc bị tiêu hủy nếu không được bảo vệ kịp thời.
2. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quy định tại
khoản 1 Điều này trước khi nghe ý kiến của bên bị áp dụng biện pháp đó.
Điều 207. Các
biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây
được áp dụng đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên
liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó:
a) Thu giữ;
b) Kê biên;
c) Niêm phong; cấm thay đổi hiện
trạng; cấm di chuyển;
d) Cấm chuyển dịch quyền sở hữu.
2. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 208. Nghĩa
vụ của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời có nghĩa vụ chứng minh quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1
Điều 206 của Luật này bằng các tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203
của Luật này.
2. Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại gây ra cho người bị áp dụng biện
pháp đó trong trường hợp người đó không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ này, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Khoản tiền bằng 20% giá trị hàng hóa
cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc tối thiểu hai mươi triệu đồng nếu
không thể xác định được giá trị hàng hóa đó;
b) Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc
của tổ chức tín dụng khác.
Điều 209. Hủy bỏ
việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp
khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong các trường hợp quy định tại khoản 1
Điều 122 của Bộ luật tố tụng dân sự và trong trường hợp người bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời chứng minh được việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
là không có căn cứ xác đáng.
2. Trong trường hợp hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời, Tòa án phải xem xét để trả lại cho người yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời khoản bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 208 của Luật
này. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không có căn
cứ xác đáng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
thì Tòa án buộc người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại.
Điều 210. Thẩm
quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời thực hiện theo quy định tại Chương VIII, Phần thứ nhất của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Mục 1. XỬ
LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH VÀ HÌNH SỰ
Điều 211. Hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính[48]
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong
các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành
chính:
a) Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt
hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội;
b) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn
bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc
giao cho người khác thực hiện hành vi này;
c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn
bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý
giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.
2. Chính phủ quy định cụ thể về hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức
phạt và thủ tục xử phạt.
3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh
tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật về cạnh tranh.
Điều 212. Hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự
Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật hình sự.
Điều 213. Hàng
hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ
1. Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo
quy định của Luật này bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa
lý (sau đây gọi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và
hàng hóa sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa,
bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với
nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không
được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.
3. Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được
sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan.
Điều 214. Các
hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả[49]
1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị
buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử
phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
2. Tùy theo tính chất, mức độ xâm
phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một
hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tịch thu hàng hóa giả mạo về sở
hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản
xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ;
b) Đình chỉ có thời hạn hoạt động
kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.
3. Ngoài các hình thức xử phạt quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
a) Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc
đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở
hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản
xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh
hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;
b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất
đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu
nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở
hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hóa.
4. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 215. Các
biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính
1. Trong các trường hợp sau đây,
tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
và bảo đảm xử phạt hành chính quy định tại khoản 2 Điều này:
a) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho
xã hội;
b) Tang vật vi phạm có nguy cơ bị
tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;
c) Nhằm bảo đảm thi hành quyết
định xử phạt vi phạm hành chính.
2. Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm
xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Tạm giữ người;
b) Tạm giữ hàng hóa, tang vật,
phương tiện vi phạm;
c) Khám người;
d) Khám phương tiện vận tải, đồ
vật; khám nơi cất giấu hàng hóa, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí
tuệ;
đ) Các biện pháp ngăn chặn hành
chính khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Mục 2.
KIỂM SOÁT HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU LIÊN QUAN ĐẾN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Điều 216. Biện
pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ
1. Các biện pháp kiểm soát hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Tạm dừng làm thủ tục hải quan
đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
b) Kiểm tra, giám sát để phát hiện
hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Tạm dừng làm thủ tục hải quan
đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được
tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông
tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu
cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính.
3. Kiểm tra, giám sát để phát hiện
hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là biện pháp được tiến hành
theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin để thực
hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan.
4. Trong quá trình thực hiện biện
pháp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, nếu phát hiện hàng hóa giả mạo
về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này thì cơ quan hải quan
có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử lý theo quy định
tại Điều 214 và Điều 215 của Luật này.
1. Người yêu cầu áp dụng biện pháp
kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Chứng minh mình là chủ thể
quyền sở hữu trí tuệ bằng các tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 203
của Luật này;
b) Cung cấp đầy đủ thông tin để
xác định hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc để phát hiện
hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;
c) Nộp đơn cho cơ quan hải quan và
nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
d) Bồi thường thiệt hại và thanh
toán các chi phí phát sinh cho người bị áp dụng biện pháp kiểm soát trong
trường hợp hàng hóa bị kiểm soát không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, người yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng
làm thủ tục hải quan phải nộp khoản bảo đảm bằng một trong các hình thức sau
đây:
a) Khoản tiền bằng 20% giá trị lô
hàng cần áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan hoặc tối thiểu hai
mươi triệu đồng nếu không thể xác định được giá trị lô hàng đó;
b) Chứng từ bảo lãnh của ngân hàng
hoặc của tổ chức tín dụng khác.
Điều 218. Thủ tục
áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan[50]
1.[51]
Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ
tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật
này thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô
hàng. Cơ quan hải quan cung cấp cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông tin về
tên và địa chỉ của người gửi hàng; nhà xuất khẩu, người nhận hàng hoặc nhà nhập
khẩu; bản mô tả hàng hóa; số lượng hàng hóa; nước xuất xứ của hàng hóa nếu biết, trong thời hạn ba mươi ngày kể từ
ngày ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính để xử lý đối với hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu và hàng hóa
sao chép lậu theo quy định tại khoản 4 Điều 216
của Luật này.
2. Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan
là mười ngày làm việc, kể từ ngày người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan
nhận được thông báo của cơ quan hải quan về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan.
Trong trường hợp người yêu cầu tạm dừng có lý do chính đáng thì thời hạn này có
thể kéo dài, nhưng không được quá hai mươi ngày làm việc với điều kiện người
yêu cầu tạm dừng thủ tục hải quan phải nộp thêm khoản bảo đảm quy định tại
khoản 2 Điều 217 của Luật này.
3. Khi kết thúc thời hạn quy định
tại khoản 2 Điều này mà người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan không khởi
kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử
lý vi phạm hành chính đối với người xuất khẩu, nhập khẩu lô hàng thì cơ quan
hải quan có trách nhiệm sau đây:
a) Tiếp tục làm thủ tục hải quan cho
lô hàng;
b) Buộc người yêu cầu tạm dừng làm
thủ tục hải quan phải bồi thường cho chủ lô hàng toàn bộ thiệt hại do yêu cầu
tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng gây ra và phải thanh toán các chi phí
lưu kho bãi, bảo quản hàng hóa và các chi phí phát sinh khác cho cơ quan hải
quan và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan theo quy định của pháp luật
về hải quan;
c) Hoàn trả cho người yêu cầu tạm
dừng làm thủ tục hải quan khoản tiền bảo đảm còn lại sau khi đã thực hiện xong
nghĩa vụ bồi thường và thanh toán các chi phí quy định tại điểm b khoản này.
Điều 219. Kiểm
tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Trong trường hợp chủ thể quyền sở
hữu trí tuệ có đề nghị kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hóa có dấu hiệu xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ thì khi phát hiện lô hàng có dấu hiệu xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ, cơ quan hải quan phải thông báo ngay cho người đó. Trong thời
hạn ba ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, nếu người đề nghị không yêu cầu
tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng bị phát hiện và cơ quan hải quan
không quyết định xem xét việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại
Điều 214 và Điều 215 của Luật này thì cơ quan hải quan có trách nhiệm tiếp tục
làm thủ tục hải quan cho lô hàng.
Điều 220. Điều
khoản chuyển tiếp[53]
1. Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo
hộ theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có
hiệu lực, nếu còn thời hạn bảo hộ vào ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp
tục bảo hộ theo quy định của Luật này.
2. Đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên
quan, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa,
tên gọi xuất xứ hàng hóa, thiết kế bố trí, giống cây trồng đã được nộp cho cơ
quan có thẩm quyền trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục xử lý theo quy
định của các văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn.
3. Mọi quyền và nghĩa vụ theo văn bằng bảo
hộ được cấp theo quy định của pháp luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu
lực và các thủ tục duy trì, gia hạn, sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực, chuyển
giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền sở hữu, giải quyết tranh chấp liên quan
đến văn bằng bảo hộ đó được áp dụng theo quy định của Luật này, trừ căn cứ hủy
bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ thì áp dụng quy định pháp luật có hiệu lực đối với
việc xét cấp văn bằng bảo hộ đó. Quy định này cũng được áp dụng đối với Quyết
định đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa ban hành theo quy định pháp luật có hiệu
lực trước ngày Luật này có hiệu lực; cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu
công nghiệp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý đối
với các tên gọi xuất xứ hàng hóa.
4. Bí mật kinh doanh và tên thương mại đã
tồn tại và được bảo hộ theo Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm
2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh
doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp tiếp tục được bảo hộ theo quy định
của Luật này.
5. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, chỉ
dẫn địa lý, kể cả chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo Nghị định quy định tại khoản
4 Điều này chỉ được bảo hộ sau khi đã được đăng ký theo quy định của Luật này.
Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2006.
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT CHỦ NHIỆM |
[1] Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Sở hữu trí tuệ có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11.”
Luật số 42/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật Sở hữu
trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
36/2009/QH12.”
[2] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[3] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[4] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 1 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
11 năm 2019.
[5] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[6] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[7] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[8] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[9] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[10] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[11] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[12] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[13] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[14] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[15] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[16] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[17] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[18] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[19] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[20] Cụm từ “Bộ Văn hóa - Thông tin” được thay
bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” theo quy định tại Điều 2 của Luật
số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[21] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 11 năm 2019.
[22] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
khoản 2 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11
năm 2019.
[23] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 3 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
11 năm 2019.
[24] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm a khoản 4 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 11 năm 2019.
[25] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 4 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 11 năm 2019.
[26] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[27] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
khoản 5 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11
năm 2019.
[28] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[29] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[30] Tên Mục này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại khoản 6 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 11 năm 2019.
[31] Điều này được bổ sung theo quy định tại
khoản 7 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11
năm 2019.
[32] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[33] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 của Luật số
42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở
hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[34] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 2 của Luật số
42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở
hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[35] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[36] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 36/2009/QH12
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2010.
[37] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[38] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[39] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[40] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[41] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[42] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[43] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[44] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[45] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 2 của Luật số 42/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[46] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[47] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 2 của Luật số
42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở
hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[48] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[49] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[50] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
[51] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 2 của Luật số
42/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở
hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.
[52] Điều
3 của Luật số 36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí
tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 quy định như sau:
“Điều 3
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
2. Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết
khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.”
Điều 3 và Điều 4 của Luật số 42/2019/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2019 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2019, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này.
2. Bổ sung mục 32a vào sau mục 32 Phụ lục 4
Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư số
67/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 90/2015/QH13,
Luật số 03/2016/QH14, Luật số 04/2017/QH14 và Luật số 28/2018/QH14 như sau:
“32a. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro
bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết
bồi thường bảo hiểm”.
3. Các dịch vụ phụ trợ bảo hiểm mới phát sinh
trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Chính phủ quy định và phải được sự đồng
ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành.
4. Các quy định về sở hữu trí tuệ tại Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đối với các trường hợp sau
đây:
a) Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp có
ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;
b) Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp
hữu ích, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý được cấp trên cơ sở đơn đăng ký
xác lập quyền sở hữu công nghiệp có ngày nộp đơn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;
c) Yêu cầu chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;
d) Vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được cơ
quan có thẩm quyền thụ lý từ ngày 14 tháng 01 năm 2019; yêu cầu khác về bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.
Điều 4. Quy định chuyển tiếp
1. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật này có
hiệu lực, cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm trước ngày Luật
này có hiệu lực phải đáp ứng các điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
theo quy định tại Luật này. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản này mà
không đáp ứng các điều kiện theo quy định thì cá nhân, tổ chức không được tiếp
tục cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho đến khi đáp ứng đủ điều kiện.
2. Các đơn đăng ký sáng chế, chỉ dẫn địa lý được
nộp trước ngày 14 tháng 01 năm 2019 được tiếp tục xử lý theo quy định của Luật
Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 36/2009/QH12.
3. Các hợp đồng sử dụng nhãn hiệu đã ký kết giữa
các bên nhưng chưa được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu
công nghiệp trước ngày 14 tháng 01 năm 2019 chỉ có giá trị pháp lý đối với bên
thứ ba kể từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.
4. Các vụ kiện xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ đã được cơ quan có thẩm quyền thụ lý trước ngày 14 tháng 01 năm 2019 nhưng chưa giải quyết xong thì tiếp tục áp dụng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009/QH12 để giải quyết.”
[53] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số
36/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
0 Nhận xét