QUỐC
HỘI |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Luật
số: 03/2011/QH13 |
Hà
Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2011 |
Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban
hành Luật tố cáo,
Luật này quy
định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán
bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo và giải
quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về
quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác
giải quyết tố cáo.
Trong Luật này,
các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tố cáo
là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
2. Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
3. Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc
công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy
định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
4. Người tố
cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo.
5. Người bị
tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo.
6. Người giải
quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
7. Giải quyết
tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử
lý tố cáo của người giải quyết tố cáo.
Điều 3. Áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
1. Việc tố cáo
của cá nhân nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam và giải quyết tố cáo hành vi vi
phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam được áp
dụng theo quy định của Luật này, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Việc tố giác
và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng
hình sự.
3. Trường hợp
luật khác có quy định khác về tố cáo và giải quyết tố cáo thì áp dụng quy định
của luật đó.
Điều 4. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
Việc giải quyết
tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục
và thời hạn theo quy định pháp luật; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo.
1. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của
pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm
ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài
sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm
quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về quyết định xử lý của mình.
2. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm bố trí trụ sở tiếp
công dân hoặc địa điểm tiếp công dân để tiếp nhận tố cáo, khiếu nại, kiến nghị,
phản ánh. Việc tổ chức tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp
công dân thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không
tiếp nhận, không giải quyết theo đúng quy định của Luật này, thiếu trách nhiệm
trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp
luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn
theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết
tố cáo
Trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm phối hợp
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ thông tin, tài liệu có liên quan
đến việc tố cáo có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu
theo yêu cầu của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thời hạn 07 ngày,
kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp, cung cấp không đầy đủ,
kịp thời thông tin, tài liệu theo yêu cầu thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Quyết định xử lý
hành vi vi phạm bị tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải được
các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng, được các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu
quan nghiêm chỉnh chấp hành. Người có trách nhiệm chấp hành quyết định xử lý
hành vi vi phạm bị tố cáo mà không chấp hành phải bị xử lý nghiêm minh theo quy
định của pháp luật.
Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Gây khó khăn,
phiền hà đối với việc thực hiện quyền tố cáo của công dân.
2. Thiếu trách
nhiệm trong việc giải quyết tố cáo.
3. Tiết lộ họ,
tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ
danh tính của người tố cáo.
4. Làm sai lệch
hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết tố cáo.
5. Không giải
quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu,
gây phiền hà cho người bị tố cáo.
6. Không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.
7. Cản trở, can
thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết tố cáo.
8. Cản trở việc
thực hiện quyền tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo.
9. Bao che người
bị tố cáo.
10. Cố ý tố cáo
sai sự thật; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự
thật; mạo danh người khác để tố cáo.
11. Mua chuộc,
hối lộ người giải quyết tố cáo; đe doạ, trả thù, xúc phạm người giải quyết tố
cáo.
12. Lợi dụng
việc tố cáo để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước;
xuyên tạc, vu khống, gây rối an ninh, trật tự công cộng, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín của người khác.
13. Đưa tin sai
sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.
14. Vi phạm các
quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo.
QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI TỐ CÁO, NGƯỜI BỊ TỐ CÁO
VÀ NGƯỜI GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo
có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc
trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật;
b) Được giữ bí
mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;
d) Tố cáo tiếp
khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được
giải quyết;
đ) Yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;
e) Được khen
thưởng theo quy định của pháp luật.
2. Người tố cáo
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Nêu rõ họ,
tên, địa chỉ của mình;
b) Trình bày
trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội
dung tố cáo mà mình có được;
c) Chịu trách
nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;
d) Bồi thường
thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố
cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông
báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra chứng
cứ để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Nhận thông
báo kết luận nội dung tố cáo;
d) Yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật, người
cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật;
đ) Được khôi
phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được xin lỗi, cải chính công khai,
được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra.
2. Người bị tố
cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình
bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành
nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường,
bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 11. Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo
1. Người giải
quyết tố cáo có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người
tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Yêu cầu người
bị tố cáo giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo;
c) Yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố
cáo;
d) Tiến hành các
biện pháp kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết tố cáo theo quy
định của pháp luật; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để ngăn chặn, chấm
dứt hành vi vi phạm pháp luật;
đ) Kết luận về
nội dung tố cáo;
e) Quyết định xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật.
2. Người giải
quyết tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo đảm khách
quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo;
b) Áp dụng các
biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các
biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung
cấp thông tin có liên quan đến việc tố cáo;
c) Không tiết lộ
thông tin gây bất lợi cho người bị tố cáo khi chưa có kết luận về nội dung tố
cáo;
d) Chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết tố cáo;
đ) Bồi thường,
bồi hoàn thiệt hại do hành vi giải quyết tố cáo trái pháp luật của mình gây ra.
MỤC 1. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 12. Nguyên tắc xác định thẩm quyền
1. Tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công
chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán
bộ, công chức, viên chức đó giải quyết.
Tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu,
cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức
cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó giải quyết.
2. Tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công
chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức do người
đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức bị tố
cáo phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan giải quyết.
3. Tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công
chức, viên chức có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết
theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
1. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có thẩm quyền
giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
2. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
3. Người đứng
đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan
chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản
lý trực tiếp.
4. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện,
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
5. Tổng cục
trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức
có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc
Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý
trực tiếp.
6. Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó
của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ và cán bộ,
công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
7. Thủ tướng
Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
1. Chánh án Tòa
án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có thẩm quyền:
a) Giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công
chức do mình quản lý trực tiếp;
b) Giải quyết tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực việc hiện nhiệm vụ, công vụ của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.
2. Tổng Kiểm
toán Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Kiểm toán trưởng, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm
toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực và công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
Kiểm toán trưởng
Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực có thẩm quyền giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
3. Người đứng
đầu cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ
nhiệm, quản lý trực tiếp.
4. Cơ quan có
thẩm quyền quản lý đối với cán bộ là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ do mình quản lý.
1. Người đứng
đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi
vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức do mình tuyển
dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
2. Người đứng
đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền giải
quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ
của viên chức quản lý do mình bổ nhiệm.
Người đứng đầu
cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền giải
quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán
bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp.
Người đứng đầu
cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ
mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
MỤC 2. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 18. Trình tự giải quyết tố cáo
Việc giải quyết
tố cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:
1. Tiếp nhận, xử
lý thông tin tố cáo;
2. Xác minh nội
dung tố cáo;
3. Kết luận nội
dung tố cáo;
4. Xử lý tố cáo
của người giải quyết tố cáo;
5. Công khai kết
luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.
1. Việc tố cáo
được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.
Điều 20. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
1. Khi nhận được
tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
a) Nếu tố cáo
thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
nhận được đơn tố cáo, phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo
và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết tố cáo, đồng thời thông
báo cho người tố cáo biết lý do việc không thụ lý, nếu có yêu cầu; trường hợp
phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn kiểm tra, xác minh có
thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày;
b) Nếu tố cáo
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đơn tố cáo, người tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo,
nếu có yêu cầu. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp
nhận tố cáo hướng dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết.
2. Người có thẩm
quyền không thụ lý giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau đây:
a) Tố cáo về vụ
việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình
tiết mới;
b) Tố cáo về vụ
việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác
định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;
c) Tố cáo về vụ
việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra,
xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm.
3. Trong quá
trình tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo, nếu xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu
hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ
sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơ quan điều tra hoặc
Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp
hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ quan, tổ chức nhận
được tố cáo phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc báo ngay cho
cơ quan công an, cơ quan khác có trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi
phạm.
Điều 21. Thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thời hạn giải
quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc
phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố
cáo.
2. Trong trường
hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn thời hạn
giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không
quá 60 ngày.
Điều 22. Xác minh nội dung tố cáo
1. Người giải
quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước cùng
cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo (sau
đây gọi chung là người xác minh nội dung tố cáo).
2. Người giải
quyết tố cáo giao cho người xác minh nội dung tố cáo bằng văn bản, trong đó có
các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm giao xác minh;
b) Tên, địa chỉ
của người bị tố cáo;
c) Người được
giao xác minh nội dung tố cáo;
d) Nội dung cần
xác minh;
đ) Thời gian tiến hành xác minh;
e) Quyền hạn và
trách nhiệm của người được giao xác minh nội dung tố cáo.
3. Người xác
minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập các
thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Thông tin, tài liệu thu thập phải
được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ
trong hồ sơ vụ việc tố cáo.
4. Trong quá
trình xác minh, người xác minh nội dung tố cáo phải tạo điều kiện để người bị
tố cáo giải trình, đưa ra các chứng cứ để chứng minh tính đúng, sai của nội
dung tố cáo cần xác minh. Việc giải trình của người bị tố cáo phải được lập
thành biên bản, có chữ ký của người xác minh nội dung tố cáo và người bị tố
cáo.
5. Người được
giao xác minh nội dung tố cáo có quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điểm
a, b, c, d khoản 1, điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 11 của Luật này, đồng thời
kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý và báo cáo người giải
quyết tố cáo.
Điều 23. Trách nhiệm của Chánh thanh tra các cấp và Tổng Thanh tra Chính
phủ
1. Chánh thanh
tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, Chánh thanh tra sở, Chánh thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh có trách nhiệm sau đây:
a) Xác minh nội
dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc
thẩm quyền giải quyết của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
khi được giao;
b) Xem xét, kết
luận việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp của
người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp đã giải quyết nhưng có dấu
hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có
vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng
cấp xem xét, giải quyết lại.
2. Tổng Thanh
tra Chính phủ có trách nhiệm sau đây:
a) Xác minh nội
dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc
thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao;
b) Xem xét, kết
luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết
nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết có vi
phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại.
Điều 24. Kết luận nội dung tố cáo
1. Căn cứ vào
nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội
dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết
luận bằng văn bản về nội dung tố cáo.
2. Kết luận nội
dung tố cáo phải có các nội dung sau đây:
a) Kết quả xác
minh nội dung tố cáo;
b) Kết luận việc
tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; xác định trách nhiệm của từng cá nhân về
những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần;
c) Các biện pháp
xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền (nếu có).
Điều 25. Việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Sau khi có kết
luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
1. Trường hợp
kết luận người bị tố cáo không vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ,
công vụ thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý
người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị
xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý theo thẩm
quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý
tố cáo sai sự thật;
2. Trường hợp
kết luận người bị tố cáo vi phạm quy định trong việc thực hiện nhiệm vụ, công
vụ thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật;
3. Trường hợp
hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ
vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Điều 26. Gửi kết luận nội dung tố cáo
1. Người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung tố
cáo cho người bị tố cáo. Việc gửi văn bản phải đảm bảo không tiết lộ thông tin
về người tố cáo và bảo vệ bí mật nhà nước.
2. Trong trường hợp người tố cáo có yêu cầu thông báo kết
quả giải quyết tố cáo thì người giải quyết tố cáo gửi thông báo bằng văn bản về
kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo. Thông báo kết quả giải quyết tố cáo
phải nêu rõ kết luận nội dung tố cáo, việc xử lý người bị tố cáo, trừ những nội
dung thuộc bí mật nhà nước.
3. Người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung tố
cáo cho cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan cấp trên trực tiếp.
Điều 27. Việc tố cáo tiếp, giải quyết
vụ việc tố cáo tiếp
1. Trường hợp quá thời hạn quy định mà tố cáo không được
giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp
luật thì người tố cáo có quyền tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên
trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo
tiếp, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét, xử lý như sau:
a) Trường hợp quá thời hạn quy định tại Điều 21 của Luật
này mà tố cáo không được giải quyết thì yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết
tố cáo phải giải quyết, trình bày rõ lý do về việc chậm giải quyết tố cáo; có
biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm của người có trách nhiệm giải quyết tố
cáo;
b) Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ
quan cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời
thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt
việc tố cáo;
c) Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ
quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại
theo trình tự quy định tại Điều 18 của Luật này.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo hoặc hồ
sơ vụ việc tố cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 3 Điều 25 của Luật
này, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản về việc thụ
lý, xử lý cho cơ quan, tổ chức chuyển tố cáo hoặc hồ sơ vụ việc tố cáo biết;
trường hợp tố cáo có nội dung phức tạp thì thời hạn thông báo có thể kéo dài
hơn, nhưng không quá 60 ngày.
1. Việc giải quyết tố cáo phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ
vụ việc tố cáo bao gồm:
a) Đơn tố cáo hoặc bản ghi nội dung tố cáo;
b) Quyết định thụ lý giải quyết tố cáo;
c) Biên bản xác minh, kết quả giám định, thông tin, tài
liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết;
d) Văn bản giải trình của người bị tố cáo;
đ) Báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo trong trường
hợp người giải quyết tố cáo giao cho người khác tiến hành xác minh;
e) Kết luận nội dung tố cáo;
g) Quyết định xử lý, văn bản kiến nghị biện pháp xử lý (nếu
có);
h) Các tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ vụ việc tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự
tài liệu. Việc lưu giữ, khai thác, sử dụng hồ sơ vụ việc tố cáo được thực hiện
theo quy định của pháp luật, bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tố cáo.
Điều 30. Công khai kết luận nội dung
tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
1. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm công khai kết
luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bằng một trong
các hình thức sau đây:
a) Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố
cáo công tác;
b) Niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của
cơ quan, tổ chức đã giải quyết tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố
cáo;
c) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
2. Việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử
lý hành vi vi phạm bị tố cáo phải bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tố
cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước.
GIẢI QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI
HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG CÁC LĨNH VỰC
Điều 31. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức,
cá nhân mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào
thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối
với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
2. Tố cáo có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà
nước của nhiều cơ quan thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm
quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao
cho một cơ quan chủ trì giải quyết; tố cáo có nội dung thuộc thẩm quyền giải
quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết.
3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do
cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng
hình sự.
Điều 32. Trình tự, thủ tục giải quyết
tố cáo
1. Trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xác minh, kết
luận về nội dung tố cáo, quyết định việc xử lý tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được thực hiện theo quy định tại các
điều 18, 19, 20, 21, 22, 24, 25, 26, 27, 28, 29 và 30 của Luật này, trừ trường
hợp quy định tại Điều 33 của Luật này.
Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm pháp luật về
quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thì việc xử lý hành vi vi phạm đó còn phải
tuân thủ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có quy
định về thời hạn giải quyết khác với quy định tại Điều 21 của Luật này thì thời
hạn giải quyết tố cáo không được vượt quá thời hạn xử lý vi phạm hành chính
theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
1. Đối với tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà
nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý
ngay thì việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Người có thẩm quyền tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo;
b) Trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật thuộc lĩnh
vực mà mình quản lý, người tiếp nhận tố cáo phải trực tiếp tiến hành hoặc báo
cáo người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung
tố cáo, áp dụng biện pháp cần thiết để đình chỉ hành vi vi phạm và kịp thời lập
biên bản về hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); việc xác minh, kiểm tra thông
tin về người tố cáo được thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo
thấy cần thiết cho quá trình xử lý hành vi bị tố cáo;
c) Người giải quyết tố cáo ra quyết định xử lý hành vi vi
phạm theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của
pháp luật.
2. Hồ sơ vụ việc tố cáo được lập chung cùng hồ sơ xử lý vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 34. Phạm vi, đối tượng và thời
hạn bảo vệ
1. Việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú,
công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc
những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
2. Đối tượng bảo vệ gồm có:
a) Người tố cáo;
b) Người thân thích của người tố cáo.
3. Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tùy
thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.
Điều 35. Quyền và nghĩa vụ của người
tố cáo được bảo vệ
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mình hoặc người thân thích của mình khi có
căn cứ xác định việc bị kỷ luật, buộc thôi việc, luân chuyển công tác hoặc bị
các hình thức trù dập, phân biệt đối xử khác, bị đe dọa xâm hại hoặc xâm hại
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích
hợp pháp khác do việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;
b) Được thông báo về biện pháp bảo vệ được áp dụng; đề nghị
thay đổi biện pháp bảo vệ nếu có căn cứ cho rằng biện pháp đó không bảo đảm an
toàn; được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
c) Yêu cầu gia hạn thời hạn bảo vệ; yêu cầu bảo vệ lại;
d) Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo yêu cầu cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ mình mà các
cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không
đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tổn
thất về tinh thần cho người được bảo vệ.
2. Người tố cáo có nghĩa vụ sau đây:
a) Gửi văn bản yêu cầu bảo vệ trong trường hợp quy định tại
các điều 37, 38 và 39 của Luật này đến người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan, tổ
chức khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo. Trong trường hợp
khẩn cấp, có thể gặp trực tiếp hoặc thông qua các hình thức thông tin khác để
yêu cầu được bảo vệ ngay nhưng sau đó phải gửi văn bản yêu cầu chính thức đến
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ;
b) Cung cấp thông tin, tài liệu, căn cứ xác định việc bị
xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm,
uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác là xác thực và phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về thông tin, tài liệu đã cung cấp;
c) Tuân thủ yêu cầu mà cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo
vệ đưa ra có liên quan đến công tác bảo vệ; không được tiết lộ biện pháp bảo vệ
cho người khác biết.
Điều 36. Bảo vệ bí mật thông tin về
người tố cáo
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố
cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo
cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin
cá nhân khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo
thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết
để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo.
Điều 37. Bảo vệ người tố cáo tại nơi
công tác, làm việc
1. Người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động đang công tác, làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế và các cơ quan, tổ chức
khác được bảo đảm vị trí công tác, không bị phân biệt đối xử về việc làm dưới
mọi hình thức.
2. Người có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán bộ, công chức,
viên chức, người lao động không được phân biệt đối xử về việc làm đối với người
tố cáo; không được trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người tố cáo.
3. Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt
đối xử về việc làm dẫn đến giảm thu nhập, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp
pháp của mình thì có quyền yêu cầu người đã giải quyết tố cáo hoặc người đứng
đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền quản lý, sử dụng mình có
biện pháp xem xét, xử lý đối với người có hành vi đó; người tố cáo là người làm
việc theo hợp đồng lao động có quyền yêu cầu tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan
quản lý lao động địa phương có biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
4. Khi nhận được yêu cầu của người tố cáo, người có thẩm
quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác minh; nếu yêu cầu của người tố cáo là chính
đáng thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền
áp dụng biện pháp để bảo vệ như sau:
a) Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ
quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền và lợi ích hợp
pháp của người tố cáo;
b) Khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản
thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người tố cáo;
c) Xử lý kịp thời người có hành vi trả thù, trù dập, đe dọa
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo;
d) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 38. Bảo vệ người tố cáo tại nơi
cư trú
1. Người tố cáo không bị phân biệt đối xử trong việc thực
hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú.
2. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm để người tố cáo không bị phân biệt đối xử,
trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
tố cáo.
3. Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt
đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú thì
có quyền yêu cầu người đã giải quyết tố cáo để người giải quyết tố cáo yêu cầu
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có biện pháp bảo vệ, khôi phục các
quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm, đồng thời xem xét,
xử lý người có hành vi vi phạm.
4. Khi nhận được yêu cầu của người giải quyết tố cáo về
việc áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người tố cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có
trách nhiệm kiểm tra, xác minh, quyết định áp dụng các biện pháp theo thẩm
quyền để bảo vệ như sau:
a) Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ
quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của người tố cáo;
b) Khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo
đã bị xâm phạm;
c) Xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với người có hành vi xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo;
d) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 39. Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ,
tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo
1. Khi người giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố
cáo bị đe dọa, trả thù, trù dập thì có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ
quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn,
bảo vệ người tố cáo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của
pháp luật đối với người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo.
2. Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể
gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
mình hoặc người thân thích của mình thì có quyền yêu cầu người giải quyết tố
cáo hoặc cơ quan công an áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
3. Trường hợp yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì
người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an kịp thời áp dụng các biện pháp
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ
người tố cáo và người thân thích của họ:
a) Bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân thích
của họ có nguy cơ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe;
b) Bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo
vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người
tố cáo và người thân thích của họ tại nơi cần thiết;
c) Áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc
đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
người tố cáo và người thân thích của người tố cáo theo quy định của pháp luật;
d) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 40. Quy định chi tiết về việc bảo
vệ người tố cáo
Chính phủ quy định chi tiết về các biện pháp bảo vệ người
tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc
bảo vệ người tố cáo.
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ
CHỨC TRONG VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
Điều 41. Trách nhiệm của cơ quan quản
lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác giải
quyết tố cáo trong các cơ quan hành chính nhà nước trong phạm vi cả nước.
2. Thanh tra Chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi thẩm
quyền của Chính phủ.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp thực
hiện quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của
mình.
4. Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thanh tra tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, Thanh tra sở, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh giúp người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý
công tác giải quyết tố cáo.
1. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Kiểm toán Nhà nước, các cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình quản lý công tác giải quyết tố cáo; định kỳ thông báo với Chính phủ về
công tác giải quyết tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình.
2. Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp
huyện, các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở địa
phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác giải quyết
tố cáo; định kỳ thông báo với Ủy ban nhân dân cùng cấp về công tác giải quyết
tố cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình.
Điều 43. Trách nhiệm phối hợp trong
công tác giải quyết tố cáo
1. Trong trường hợp cần thiết, Thủ tướng Chính phủ làm việc
với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện làm việc với Chánh án Toà án
nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để phối hợp trong công
tác giải quyết tố cáo.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao định kỳ báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
và thông báo đến Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác giải
quyết tố cáo.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ về công tác giải quyết tố cáo trong
phạm vi quản lý của cơ quan mình theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Chính phủ.
4. Ủy ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan cấp trên và thông báo đến
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về công tác giải quyết tố cáo trong
phạm vi địa phương và lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của mình.
Điều 44. Giám sát của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận
1. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận động viên nhân dân, hội viên của mình nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật về tố cáo; giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo và giải quyết tố
cáo.
2. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân đến tố cáo, khiếu nại,
kiến nghị, phản ánh; khi nhận được tố cáo thì nghiên cứu, chuyển đến người có
thẩm quyền giải quyết tố cáo.
3. Tố cáo do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức
thành viên của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết tố cáo xem xét,
giải quyết và trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định xử lý, phải
thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn đến biết kết quả giải quyết;
nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có quyền
kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo xem
xét, giải quyết; cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó
trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định xử lý.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải
quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước,
tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất và tinh thần.
Chính phủ quy định cụ thể về chế độ khen thưởng đối với
người có thành tích trong việc tố cáo.
Điều 46. Xử lý hành vi vi phạm của
người giải quyết tố cáo
Người giải quyết tố cáo có hành vi quy định tại các khoản
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác
của pháp luật trong việc giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người có trách nhiệm chấp hành quyết định xử lý hành vi vi
phạm bị tố cáo nếu không chấp hành thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền mà không áp
dụng biện pháp cần thiết để xử lý kịp thời đối với người giải quyết tố cáo có
hành vi vi phạm quy định tại Điều 46 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Điều 48. Xử lý hành vi vi phạm đối với
người tố cáo và những người khác có liên quan
Người tố cáo và những người khác có liên quan có hành vi
quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật này hoặc vi
phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2012.
2. Các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Luật
khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 26/2004/QH11 và Luật số 58/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực.
3. Đối với tố cáo đã được thụ lý, đang xem xét và chưa có
kết quả giải quyết trước ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp tục giải quyết
theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 26/2004/QH11 và Luật số 58/2005/QH11.
Điều 50. Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành
1. Chính phủ quy
định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật
này; quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân và Công
an nhân dân.
2. Căn cứ vào Luật này, cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan
có thẩm quyền của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hướng dẫn việc
thực hiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo trong phạm vi cơ quan, tổ
chức mình.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011.
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét